Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên Ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên Ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

CHUYỆN KỂ LÚC VỀ GIÀ (Thanh Chung)


HAT - Cách nay mấy tháng, mình đọc lại cuốn sổ tay hồi học Chuyên ngữ, có bài thơ này hay hay, chép tay mà không biết tác giả là ai. Đăng lên blog của mình với tên tác giả là Sinh viên (hì hì, chắc chắn phải là Sinh viên sư phạm rồi, và là nữ sinh viên nữa kia, theo khẩu khí của bài thơ). Sau nhờ chị Nguyễn Phương Thảo, cũng từ lò Chuyên Ngữ ra, méc rằng tác giả là chị Lê Thị Thanh Chung, sinh viên K12-Pháp ĐHSPNNHN. Vậy nên mình xin "trả lại tên" cho bài thơ của chị Thanh Chung, đồng thời đăng lại nguyên bản của tác giả, có khác chút ít so với bài chép tay. Cảm ơn chị Thanh Chung, chị Phương Thảo.


CHUYỆN KỂ LÚC VỀ GIÀ

(Tặng các bạn sinh viên K12 Khoa Pháp - ĐHSPNN của tôi)

Mong chóng về già ngồi kể chuyện cùng nhau
Ôn lại cái thời chúng mình đang sống
Đời sinh viên vui - buồn - mơ mộng
Ai đã qua rồi chắc dễ gì quên


Mình sẽ quay về những năm tháng ấm êm
Mái lá nhà tranh - tám giường tầng - tám căn buồng hạnh phúc*
Những đôi "vợ chồng" yêu nhau như thật
Cũng ghen hờn bâng quơ


Sẽ kể về những tối làm thơ
Mỗi đứa một câu, mỗi người mỗi ý
Mẩu bánh mỳ nâng tâm hồn thi sĩ
Để cóc kêu ngơ ngác giữa vần


Mình cùng ôn lại những tháng năm
Cả bọn tuổi "hâm" mà phòng chẳng bao giờ có khách
Đêm thứ bảy nghêu ngao ngồi hát
Ngày tám tháng ba (8/3) mình lại tặng hoa mình


Đấy một thời chúng mình gọi bình minh
Là ánh nắng tám giờ chiếu xuyên qua vách
Thể dục sáng được coi như nét gạch
Nối liền hai giấc mơ


Con cháu sẽ nghe như chuyện thưở xa xưa
Cả bọn sáng nào cũng đồng thanh kêu đói
Trên thư viện nghe bụng gào dữ dội
Chút hành phi cũng gợi nhớ nhà


Dù thời gian năm tháng lùi xa
Chẳng thể quên những ngày ấy sức ăn như rồng cuốn
Bữa Souper một giờ đêm chưa muộn
Đơn vị đo bằng nồi bảy nồi ba


Thưở ấy mình sống cũng xa hoa
Mừng sinh nhật ăn toàn khoai với sắn
Một bữa cháo hành bàn năm bảy bận
Gạo ít, người đông - thêm nước lại đầy


Mình đã sống bằng "khối óc bàn tay"
Bao sự "hy sinh" kể sao cho hết
Từng tập thư tình "hiến thân" vào bếp
Cho gạo trong nồi "chuyển hóa" thành cơm


Mái tranh nghèo mưa nắng sớm hôm
Cũng "nghĩa tình" biến mình thành lửa khói
Mở một khoảng xanh cao vời vợi
Để đêm đêm mình ngắm sao trời


Thưở ấy cuộc đời đâu lặng lẽ trôi
Mình đã đi qua "một thời sôi động"
Nửa đêm còn cãi nhau về nhạc - thơ - nghệ thuật
Để phòng bên "nhắc nhở" đến thủng tường.


Ngày ấy cả phòng nghe nhạc Đặng Thái Sơn
Như đồng cảm với tâm hồn nghệ sỹ
Sột soạt suốt đêm chúng mình kéo nhị
Thương nhau thuốc "DEP" nối nhịp cầu **
.........

Mong chóng về già ngồi kể chuyện cùng nhau
Ôn lại cái thời chúng mình đang sống
Đời sinh viên vui - buồn - mơ mộng
Ai đã qua rồi chắc dễ gì quên



(Bài lấy từ facebook Chung Le  http://www.facebook.com/notes/chung-le/chuy%E1%BB%87n-k%E1%BB%83-l%C3%BAc-v%E1%BB%81-gi%C3%A0/10150182517940842 )

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

KỶ NIỆM MÁI TRƯỜNG XƯA!

Phạm Duy Hải gửi HAT blog

Rồi tôi đã về, Thăm lại
                                  ...Mái trường xưa!
Thoáng bâng khuâng,
                                    Cây bàng già
                                                         ...Trụi lá!
Man mác thời gian,
                               Biến những cái quen
                                                             ...Thành cái lạ!
Dấu vết ngậm ngùi,
                                Xao xuyến dáng
                                                      ... Bàng già!
 
Chuyên ngữ ngày ấy...
                                 Vẫn còn nhà
                                                  ... Mái bằng rơm rạ!
Đạp xe hàng ngày...
                             Nẳng bỏng
                                             Cháy
                                                   ...Thịt da!
Đường đến trường...
                              Hai bên đường
                                                  ... Lúa còn lên xanh quá!
Cặp sách cặp lồng,
                               Hai thứ
                                        ...Vốn thân ta!
 
Nắng nóng tháng năm...
                                    Oi nồng Ký túc xá!
Hầm hập mùa thi...
                               Mọi người đều
                                                   ... Hối hả!
Ôn đứng ôn ngồi...
                              Nơm nớp
                                             Với
                                              ... Rủi may!
Tôi rời trường, lòng thầm phục
                                                   Những bạn còn
                                                                       ... Ở lại!
 
Một học kỳ thôi...
                         Nhưng Chuyên ngữ...
                                                         Vẫn là trường của tôi!
Vẫn các bạn...
                     Học cùng tôi... Thủa đó!
Vẫn kỷ niệm...
                     Của một thời.. Nho nhỏ!
Vẫn nao lòng...
                     Thấm thía...Mái trường xưa!

PDH
Tháng 06 năm 2012

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

TRỞ LẠI TRƯỜNG XƯA

Đỗ Mạnh Hùng gửi HAT Blog

K13B Chuyên ngữ - 02.1985
Em có về thăm mái trường xưa,
Bằng lăng tím nắng ngày trở lại,
Cành hoa ấy cái ngày ta hái,
Tặng cho nhau cánh lá lẩn trong chiều...

Cánh phượng rơi vết dấu thời yêu,
Giờ gặp lại người quen là cánh gió,
Cửa sổ mở như thư trời để ngỏ,
Lòng ta xanh như đến vô chừng...


Cây ơi mau lớn nhé!
Ngày ấy em khó hiểu lạ thường,
Cứ e ấp như bông hồng chúm nụ,
Muôn cảnh sắc mở về lối cũ,
Tự dưng hờn vì gãy cánh hoa khô...

Xa mái trường đã mấy mùa thu,
Cầu vồng không thấy màu lạ nữa,
Buồn vui xen rét dài nắng lửa,
Cánh cổng trường đã mấy lần sơn...


Cổng trường Chuyên ngữ nay
Cánh lá rơi bất chợt lung liêng,
Như day dứt điều gì vời vợi,
Cái ngày xưa ta mơ mình trở lại,
Đứng trên bục cao nói chuyện phi thường.

Nay ta về đây hoa lắc rắc sân trường,
Gợi nhớ lại rất nhiều quá khứ,
Bao ngày đêm chỉ viết nhiều nhung nhớ,
Bỗng nhỏ nhoi trước tiếng trống tan trường.


Cô trò gặp lại sau 27 năm
Bạn bè xưa lập nghiệp khắp bốn phương
Mấy đứa sang sông từ nơi đất khách,
Nhớ thuở chụm đầu đọc chung cuốn sách
Lưu bút bạn bè, cóp nhặt mấy vần thơ?

Còn ít lắm thôi các thầy cô
Ở lại nơi đây chèo đò chuyến cuối,
Chiều bạng lạng những niềm đau khó nói,
Sợi tóc đang tự chuyển trên đầu...

Học sinh Chuyên ngữ nay
Về trường xưa bạn cũ còn đâu?
Chỉ có đàn em đón mình như khách lạ,
Ôi đệm cỏ giờ xao xác quá,
Nên đìu hiu khói bếp tỏa lan chiều...

Bao nhớ nhung đành gửi gió thân yêu,
Xin hôn nhẹ thân cây ta trồng đấy,
Em có nhớ bao mùa trăng dãi,
Tiếng hát khuya nghẹn giấc ngủ căn nhà...

Cây bàng: dấu vết duy nhất còn lại từ CN xưa
Có còn ai về thăm lại trường xưa,
Cũng như tôi giẫm chân vào bóng nắng,
Gió nghẹn nói như chuông hồn sâu lắng,
Có thấy chiều ... bỗng đứt tiếng ve kêu?

ĐMH (K13B-CN)

P/S: [HAT] - Bài này ĐMH viết từ 1991, lần về thăm CN khi học năm thứ 3 ĐHKTQD. Bài được đăng trong tập san kỷ niệm 40 năm CN (2009), nhưng dưới dạng tản văn. Khi post lên đây, HAT mạn phép ngắt câu và chia khổ thơ, còn từ ngữ vẫn giữ nguyên.

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Nhớ về Chuyên Ngữ: Người xưa

Bài của ĐMH - K13

HAT - Mấy lần tôi định viết về các "mối tình" chuyên ngữ, song lại thôi. Tôi ngại làm lộ bí mật của bạn bè, dù 30 năm đã qua rồi. Thực ra phần nhiều đó là những chuyện gán ghép của học trò, một vài cặp cũng có vẻ kết nhau thực sự, nhưng có lẽ chỉ là những rung động của tuổi mới lớn, trong sáng và ngây thơ. Nếu tôi không lầm thì PTCN thời đó chỉ có 2 cặp sau này nên duyên: Hằng-Việt (K11) và Nhi-Hà (K13). May sao, ĐMH, một anh bạn học cùng khóa, đã viết bài và đồng ý cho tôi post lên đây.
Chúng ta cùng đọc câu chuyện do bạn ĐMH viết nhé, và chờ đợi các phần tiếp theo .. Người xưa 2, Người xưa 3 ... Nghe nói bài đã viết, nhưng tác giả kiêm nhân vật chính đang chờ xin các chủ thể cho "giấy phép xuất bản" hi hi.

Người xưa 1

   Đói đã tiêu diệt nhiều ước mơ lớn lao của con người…
   Đói làm những học sinh đang tuổi ăn tuổi lớn như chúng tôi chỉ có ước mơ trước mắt là kiếm gì bỏ vào bụng, để nó khỏi kêu ùng ục trong giờ lên lớp.
   Nhưng đói lại là cơ hội để nảy sinh trong tôi 1 tình cảm đẹp.
  Người ta nói "Đói thì đầu gối phải bò", tôi bán hết tem phiếu vải, gạo, những lạng đường sữa cuối cùng trong thời bao cấp để đổi lấy cháo trai, bánh sắn Bà Khánh (cái thương hiệu mà sau này ăn chơi rất nhiều món ngon vật lạ  tôi cũng không thể nào quên được…). Và cứ chiều thứ bảy tôi lại nhảy tàu điện mang 1 cái balô lép kẹp về bến xe Hà Đông, khuôn mặt thì ngu ngơ nhưng động tác len lỏi tránh chú soát vé thì rất mau lẹ, khôn khéo. Từ Hà Đông, tôi bắt xe về Mỹ Đức, Vác …. để xuống Kim Bài (thủ phủ của Thanh Oai), đến nhà ông bác ruột làm Trưởng phòng giao thông huyện. Hồi đó Nguyễn Quang Vinh cũng như tôi, toàn trốn vé, chứ chưa có khái niệm gì về chống tham nhũng, vì có đâu mà chống. Lương chức Trưởng phòng giao thông huyện của ông bác cũng chỉ vừa đủ ăn, có thêm con cá đi câu ở ao Ủy ban để nuôi thằng cháu, cơm thơm ăn với nước mắm, dưa, muối vừng … cũng đủ ngon (không chê ỷ eo các món ăn ngon như các con tôi bây giờ). Đầu giờ chiều Chủ nhật bác tôi lại cho đủ tiền vé để từ Kim Bài về trường theo lộ trình ngược lại. Lắm lúc Bác cũng hết tiền, tôi nghĩ trong bụng “chuyến này thăm bác bị âm rồi …”.
   Tôi đã đi với 1 người con gái lớp bên cạnh như vậy nhiều lần, cùng về và cùng đi  mà không nói chuyện. Con gái mới lớn, da trắng, đôi mắt hút hồn. Tôi cũng bắt đầu vỡ tiếng. Đêm nằm ở Thanh Oai, tôi mơ cùng nàng sánh vai, cùng về cùng đi … Chỉ mơ thế thôi, tỉnh dậy đã ngượng đỏ mặt với ông bác đang ngon giấc.
   Ông bác tôi hình như quen với cha nàng, ông đùa rằng: "Sao không rủ nó cùng về? Này, con bé ấy ngoan, chăm học, gia đình cơ bản …, tán đi sau này tao xin việc ở đây cho. Hai đứa đẹp đôi đấy..."
    Tôi cũng chưa quen bạn khác giới nhiều, con gái lớp tôi rất tốt nhưng cũng hay lấn át bọn con trai trong lớp, vì nữ chiếm số đông, với lại có cảm tình với ai bọn nó trêu đến chết mất.
    Tôi âm thầm và đơn phương mê người bạn đồng hành, người ấy lặng lẽ trong những chuyến xe và hình như chẳng quan tâm gì đến tôi.
    Cho đến ngày, tôi cùng 1 số bạn phải tạm biệt chuyên ngữ, lòng nặng trĩu ưu tư trở về trường cũ để học nốt năm học cuối cấp III, cũng chưa nói điều gì với nàng. Và sau này qua mail … nàng chẳng hề biết gì và nhớ gì, coi tôi và các chuyện của tôi như từ một hành tinh lạ.
   Trong buổi gặp gỡ các bạn K13 kỷ niệm 30 năm vào chuyên ngữ, tôi hoành tráng kêu các cái tên những bạn ngày xưa cùng lớp mà tôi thích: Lan Phương, Thu Liên, Phương Lan, Ngọc Lan ….
   Nhưng có cái tên trong 2 năm ròng tôi âm thầm theo đuổi, tôi giấu nhẹm đi, vì đoán người đó chẳng hề biết tý gì … là tôi thích người đó …. Một ký ức quá trong trẻo của thời học sinh mà tôi gọi vui là "chuyện tình chuyên ngữ" hay "người xưa"….

(ĐMH)

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Nhớ về Chuyên Ngữ: Nhập Trường (bài của ĐMH)

HAT - Khi viết loạt bài về Chuyên Ngữ, để chuẩn bị Kỷ niệm 30 năm K13 chúng tôi vào trường, tôi cứ hy vọng các bạn học chuyên ngữ, ít nhất là các bạn cùng khóa, sẽ có nhiều phản hồi, và thậm chí viết nhiều bài gửi đăng lên đây, giống như các bạn học cấp 1-2 của tôi ở Thái Nguyên đã làm. Thật tiếc, chỉ có một ít comment, và chỉ có một bài của Phương Lan gửi từ Canada. Cũng có chút an ủi là từ sau Buổi lễ kỷ niệm cách đây hơn 2 tháng, các bạn K13 trở nên gắn kết hơn, tham gia tích cực vào forum của khóa, kết quả là hai tháng qua trao qua đổi lại hơn 1000 e-mail. Và các chủ đề trong forum thật sự đa dạng, thiết thực bổ ích đối với nhiều người. Nhưng đó là câu chuyện khác.
Còn bây giờ tôi xin gửi các bạn học sinh Chuyên Ngữ bài viết (hy vọng sẽ là loạt bài) của bạn ĐMH, K13B.


Nhập trường

      Tôi là một học sinh cấp II chuyên toán ở phố huyện một tỉnh thuần nông. Điều kiện ở phố huyện những năm 80 còn nghèo, ít các trò chơi dành cho thanh,  thiếu niên, nên tôi  và các bạn  cùng lớp say mê học tập. Vì là con giáo viên, tôi được định hướng học toán và lúc nào cũng đứng ở tốp đầu, tuy nhiên thày giáo chủ nhiệm Pitơ Huỳnh (bọn tôi kính phục thày và coi thày là anh em của Pitơgo) chỉ nhận xét: học rất tốt, tuy còn hấp tấp…
      Năm 1981 tôi thi chuyên ngữ vào đạt số điểm khá cao: Toán 9,5 văn 6,5… Cuộc đời tôi từ đó đánh dấu 1 bước ngoặt, từ quê nghèo lên phố lớn, với những dấu ấn của những năm đầu thập niên 80. Hà Nội đón tôi với những dãy phố cao, đông vui, ồn ã, buôn bán ngược xuôi… Bố tôi đưa tôi lên học lần đầu tiên (và có thể là duy nhất trong 2 năm học cấp III chuyên ngữ). Tôi nhớ chiếc xe khách cũ nát của những năm bao cấp đưa bố con tôi lên Thủ đô chở đầy bu gà, gạo, quang gánh lổn ngổn, cảnh đó sau này tôi còn bắt gặp ở các chuyến xe buýt,  xuất phát từ nội thành … để đón đưa khách. Từ Bờ Hồ, đi Cửa Nam và đi Cầu Giấy bằng xe điện, tôi khoái chí ngắm mọi người tấp nập lên xuống, tiếng leng keng đáng yêu và giật mình khi xe đỗ, hoặc tóe lửa khi bác phụ lái đưa cái “ đuôi” xe, nối vào dòng điện để xe bắt đầu 1 chặng mới, khi tới nơi đỗ nó lại được bác khéo léo ngắt ra, nguyên lý thật đơn giản…
      Trong trường, may mắn là tôi được học cùng với 1 ông bạn hiền lành, tốt bụng và cẩn thận từ hồi cấp II, nhưng bố hắn công tác ở gần trường nên hắn ra ngoại trú mất. Tôi thả mình vào tập thể các bạn mới, với rất nhiều tính cách, và tôi nhanh chóng nhận ra rằng đa số bạn bè tôi là dân Hà nội, có điều kiện sinh hoạt và học tập tốt hơn và học rất giỏi. Số còn lại, dân tỉnh lẻ như tôi, thì cùng ở nội trú, nhưng tôi cũng tự biết mình ở xa nhất và hoàn cảnh nhất, đặc biệt là sau khi bác Lợi "màn" ở lớp trên khoắng của bọn tôi rất nhiều quần áo và màn đem ra Cầu Giấy bán. Số là tôi có 2 cái áo tím ngắt và xanh lè (khoác nó lên có lúc tôi giống như con bọ xít, lúc lại giống con cánh cam!) vải dầy như vải sợi gai bây giờ, ông anh "tha" cho vì biết bán chẳng ai mua, để tôi có dịp mặc đi học, và các bạn đã cho tôi biệt danh "bạn có màu áo dễ nhớ". Sau này, mỗi khi nhớ lại, tôi tự hào là để nổi tiếng các chàng trai thời nay phải nhẩy từ tầng cao của tòa nhà, hay mua hàng ngàn bông hoa xếp hình trái tim ở bãi đê, các cô gái phải nuy hay lộ băng tình tứ … thì hồi đó mình chỉ cần mặc 1, 2 cái áo đã tỏ ra sự khác biệt thành 1 đẳng cấp khác… đẳng cấp "nhà quê" đầy mặc cảm ở thời điểm ấy….
     K13 đặc thù là đói, môn sinh thứ 13 thành tội đồ của chúa, còn K13 là đứa con khốn khó của Phổ thông CN, vì thiếu gạo nên bọn tôi học ở quê đến hết kỳ 1 của năm lớp 8, 5/2 Dương lịch 1982 chúng tôi mới nhập học. Nạn đói hoành hành không tha cả các thày cô, mà giai thoại là "lợn nuôi giáo sư Văn Như Cương" (bố Văn Quỳnh Giao K13), chứ không phải "giáo sư Văn Như Cương nuôi lợn". Các cô giáo tôi sau này cũng tâm sự là thương học sinh lắm, nhưng các thầy cô cũng rất vất vả nuôi con. Dân nội trú chúng tôi sống dựa vào nắp hầm, bo bo, cơm độn và canh cải xoong để cả rễ, đệm với loáng thoáng vài lát cà chua … ăn nhiều đến nỗi sau này vợ tôi làm món cải xoong đặc sản, các con tôi tấm tắc khen ngon, riêng tôi vẫn ngán đến tận cổ. 
    Tuổi ăn, tuổi lớn, học nặng để theo kịp chúng bạn, làm chúng tôi gầy còm, nhưng đâu đó đã xuất hiện dấu hiệu dậy thì, bắt đầu trứng cá, vỡ giọng, cao lên, nhiều ước mơ hoài bão ... xen kẽ trong những giấc mơ đó có 1 vài cô bạn học vui vui ….

(ĐMH)

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Nhớ về Chuyên ngữ (6): thư Canada

 
Phương Lan - Hi Tuan, chac ban chua quen to, Lan Cuong day. Da doc rat nhieu tren blog cua ban va to rat khoai cac bai viet cua ban ve chuyen ngu cung nhu nuoc Nga, don gian la vi bon minh cung chia se quang thoi gian do voi nhau. Hom nay nhan dip cac ban duoc gap nhau ky niem 30 nam ngay vao chuyen ngu, to cung noi hung tam su vai dieu, nghi rang gui email nho ban post len blog la hay nhat, vi to khong co blog, khong co facebook, ... 

CHUYÊN NGỮ - MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

Chuyên ngữ Sư phạm nằm tại cây số 7 đường đi Cầu giấy, được biết đến trước hết là nơi sáng sáng “thanh niên Cổ Nhuế xin thề, chưa đầy hai sọt, chưa về quê hương”, sau đó mới là nơi đào tạo những mầm non tương lai “ăn như sư, ở như phạm”. Trước khi có được tờ giấy nhận học như Tuấn đã post lên, đứa nào cũng phải qua một kỳ sát hạch nói ngọng, nói lẫn, nói nhịu … đến phát khiếp khi lưỡi cứ muốn cứng lại lúc đọc câu “Dân Thanh Lương làm lúa nương…” hay "Nước Lào là nước nào? Nước nào là nước Lào?". Lúc đó mặt mũi mình đỏ phừng phừng vì lo lắng, không còn đủ sức chú ý đến nụ cười rất hiền của cô Thủy như đang khuyến khích “Em cố lên nào, cô tin em làm được!”. Mãi tới khi gặp lại cô ở Chuyên ngữ, nghe giọng ngọt ngào đọc thơ với nụ cười mỉm thật dễ thương, mình mới choàng tỉnh, à đây chính là cô giáo đã khảo sát mình vòng 2.

Lần đầu tiên được biết giáo viên chủ nhiệm là cô Dung, mình đã hoảng, trông cô rõ ràng là không hiền tí nào, bụng bảo dạ phải cẩn thận nghe chưa. Sau này khi đọc Harry Potter, mình thấy cô sao mà giống cô giáo chủ nhiệm của nhà Gryffindor thế chứ, và mình chợt cảm thấy “nhà Gryffindor” thật may mắn khi có được một giáo viên chủ nhiệm nghiêm khắc và công bằng như vậy. Khi đã kết thúc 3 năm chuyên ngữ, một hôm cả bọn con gái quây quần xung quanh cô trước khi chia tay, cô cười cười hỏi “Sau này ai sẽ lấy chồng đầu tiên trong nhóm?”, cả bọn nhao nhao “Chắc Ngọc Lan rồi cô ơi”. Buổi nói chuyện hôm đó cứ làm mình có cảm giác cô như gà mẹ đã luôn giang tay ấp ủ lũ gà con chúng mình trong suốt mấy năm qua, và giờ đã đến lúc chúng mình đủ lớn, bay nhẩy khắp các phương trời xa. Thế mà, hóa ra người “sang sông” trước lại là Hường, người hiền lành đến mức hình như không bao giờ có ý kiến riêng trong mọi cuộc họp của lớp.

Cô Hằng giáo viên dạy tiếng Nga để lại trong lòng mình ấn tượng thật khó quên vì cô rất trẻ, rất đẹp và mới đi Nga về. Cô hay kể chuyện nước Nga “hay lắm các em ạ, 4 mùa đều đẹp, một sáng tỉnh dậy, em bỗng thấy cây cối đồng loạt ra chồi xanh”, hay là “tàu điện ngầm chỉ vài phút có một chuyến, mình đứng trên chỗ đợi, tàu đến, mình chỉ cần bước vào chứ không cần leo mấy bậc cầu thang”. Những câu chuyện của cô làm chúng tôi nuốt từng lời, và từ lúc nào chúng tôi đã ao ước, mình sẽ đi Nga học để được chứng kiến tận mắt những điều đó. Sau này khi kể cho ai đó về nước Nga, vô tình mình hay dùng lại câu của cô Hằng “một sáng tỉnh dậy, bạn sẽ thấy cây cối đồng loạt ra chồi”.

Cô Chung “Địa” không khó tính trong việc chấm điểm vẽ bản đồ Việt nam như bọn mình tưởng. Các chị năm trên có truyền kinh nghiệm rằng với bài kiểm tra một tiết của cô Chung chỉ cần mở bài và kết luận thôi, còn bên trong thân bài hoàn toàn có thể viết “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” hay “vườn rau của cô Chung chuyên môn bị bọn học trò cắt hết” cho đủ chiều dài là được. Mình chưa bao giờ dám thử thách xem điều đó có thật không hay chỉ là một chiêu “xui trẻ ăn … gà”, nhưng câu chuyện bản đồ thì có thật. Vẽ bản đồ Việt nam bao giờ cũng là niềm đau khổ chung của cả lớp vì trình độ vẽ quả thật là còi. Cô Chung cứ cười lăn khi thấy Việt nam khi thì giống củ khoai tây, lúc lại đúng là chữ S nhưng gầy nhẳng. Cô chê đứa thì ăn cắp đất của Lào, đứa lại cho không Trung quốc cả đoạn!!! (cái này xảy ra gần 30 năm trước rồi, chứ bây giờ thì hơi “đụng chạm” à nha). Tới ngày phải nộp bản đồ chấm điểm, cả lớp cuống quýt lên, cuối cùng không biết ai là người đầu tiên nghĩ ra mẹo qua mặt cô: cô gọi 5 đứa đầu trong danh sách lớp mang bài lên nộp, cô chấm hết 5 bài, trả bài rồi mới gọi tiếp, thế là những bài được điểm từ 7 trở lên được cắt béng cái phần có điểm đi và lại quay vòng, nộp tiếp cho đứa sau. Mỗi bài “đẹp” đó có thể quay vòng tới 5 lần, cho tới khi cô chấm vào chính giữa bản đồ thì thôi, dĩ nhiên mỗi lần được điểm khác nhau là chuyện thường, còn hơn là nộp củ khoai lang của mình lên và lĩnh chắc con 5, hoặc 4 không chừng. Sau này thành giáo viên, mình “đọc” hết các chiêu của học sinh, và lúc đó hiểu ra rằng, cô thương không thèm nói ra, để các em có được điểm cao một tí, dành thời gian mà học môn chính.

Nói chuyện thương học trò, mình nhớ tới thầy Thung dậy Sinh. Môn Sinh của thầy chẳng bao giờ được coi trọng thực sự, trừ lúc thầy dậy đến bài gen di truyền và con lai, lần đầu tiên trong lớp bàn luận sôi nổi, thậm chí cả sau khi thầy đã ra khỏi lớp. Cả bọn lôi cuốn truyện mà mình đã quên béng mất tên, trong đó có hai anh em ruột là con lai, nhưng người anh da trắng, còn người em da đen và cãi nhau long trời lở đất, thậm chí bàn tính xem nếu họ còn thêm anh em thì tỉ lệ đen, trắng, nâu nâu … ra sao. Nếu thầy Thung quay vào lớp lúc đó hẳn thầy sẽ hãnh diện lắm, hóa ra chúng cũng có học môn Sinh này!!! Không biết là may hay không may cho thầy, năm thi tốt nghiệp, ngoài 3 môn Toán, Văn và Ngoại ngữ, môn thứ tư chính là Sinh vật. Thầy vất vả hẳn, người gầy đi (nhưng chắc chẳng đứa nào nhận ra, vì thầy vốn to béo và cao), bất cứ lúc nào dù ngoài giờ học có ai thắc mắc gì môn Sinh, thầy nán lại giảng giải ngay. Đặc biệt tuy là môn đi thi nhưng không vì thế mà thầy lên mặt dạy dỗ “các em phải… ” hoặc dọa dẫm “nếu các em không chịu học thì…” mà lúc nào cũng nhẹ nhàng giải thích, dù có nói đi nói lại mấy lần cũng không hề gì. Hôm đi thi tốt nghiệp, môn Sinh là môn cuối cùng, vào buổi chiều ngày thứ hai, mới lao ra khỏi phòng thi (môn tiếng Nga thì phải) mình đã thấy dáng cao lớn của thầy Thung vượt lên trên các phụ huynh đang chờ trước cửa, và trong lúc các bậc phụ huynh đang tìm cách nhồi nhét thức ăn cho con thì thầy tìm cách nhồi nhét thêm kiến thức cho lũ học trò lao xao xung quanh. Nhìn lưng áo mướt mồ hôi của thầy chắc khối đứa hôm đó phải bụng bảo dạ, cố gắng lên nhé, thầy đã hết lòng hết sức vì chúng mình rồi. Năm đó điểm thi tốt nghiệp khá cao (mình nhớ Tuấn lớp A được điểm tuyệt đối) hẳn làm thầy Thung cười hài lòng. Thầy Thung hiền lắm, mình không nhớ đã có lúc nào thầy nghiêm giọng với bọn mình chưa, nhưng bọn học trò nhất quỷ nhì ma thì chẳng buông tha ai hết, kể cả thầy. Thầy có thói quen để khăn mùi xoa ở túi quần bên trái, thỉnh thoảng khi giảng bài thầy rút ra lau mồ hôi. Tiến “còi” ngồi bàn đầu, chắc chẳng có việc gì để làm, trong lúc thầy đang thao thao giảng và đứng tựa vào bàn của Tiến thì Tiến đã nhẹ nhàng rút béng khăn mùi xoa của thầy ra và tráo vào đó là… giẻ lau bảng. Sau đó khi thầy đi sang hướng bên, Tiến chuyền khăn cho cậu khác để nhét vào túi quần bên phải của thầy, chắc với hy vọng rằng thầy sẽ nghĩ là do thầy nhầm lẫn. Phải đến nửa lớp say sưa theo dõi trò nghịch của Tiến và hồi hộp chờ phút đỉnh điểm. Khỏi phải nói khi thầy lau mặt bằng giẻ lau bảng thì cả lớp cười òa ra như thế nào, nhưng thầy hiền thật, tìm ra cái khăn thực sự đang ở bên túi phải, thầy chỉ cười và chẳng tìm xem đứa nào nghịch thế để phạt cả.
              
Ở nội trú là một thú vui, tuy rằng có phải ăn uống rất khổ sở, nhưng tiếng cười thì lúc nào cũng vang vang mọi nơi. Buổi tối khi các bạn ngoại trú đã về hết, cả bọn lên lớp, vác sách vở theo, thậm chí cả một cái chậu nhôm thật to để “bắt” châu chấu, học bài, cười đùa, trêu chọc nhau cho có đứa phát khóc, thường là Thúy “còi” phải chịu trận. Vì còi nhất lớp nhưng giọng lại to nhất nên nếu có “chiến tranh” nổ ra, phe bên kia thường xuyên khênh Thúy ném toạch ra ngoài hành lang. “Bác học” Tuyến thì bình chân như vại, có bom nổ hay cháy nhà cũng vẫn thấy Tuyến đang lẩm nhẩm chia động từ. Có hôm cả bọn con gái say sưa cãi nhau, ỏm tỏi cả lên chỉ vì cái con tôm nhỏ phải gọi là tép hay là cá con, Thúy cũng đã bị vứt ra ngoài hành lang rồi thì bỗng nghe tiếng bọn con trai gào lên từ dãy nhà bên kia “Đứa nào to mồm là con tép”, cả bọn ớ ra, nào có ai đụng chạm tới chúng mà chúng làm loạn? Mãi sáng hôm sau mới biết, thì ra mẹ của Hùng “” tên là Tép. Đành cười trừ, chứ biết làm sao.

Đi học thích nhất là giờ toán thầy Thụy và giờ văn cô Thủy. Thầy Thụy có kiểu ném phấn lên trời, quay nửa vòng trên đế đôi giày tây rất diện và chụp lại viên phấn, viết lên bảng, đó là lúc thầy sẽ đưa ra một lời giải vô cùng đặc sắc mà cả lớp chỉ có biết ồ à  hàng loạt. Bài toán hình của thầy lúc nào cũng khó ghê, cả bọn vẽ đủ kiểu cũng chịu, đành bảo nhau thôi chờ ngày mai thầy giảng, ấy thế mà thầy mới chỉ vẽ đầu đề lên bảng, đã thấy cả nửa lớp reo hò, hiểu rồi, hiểu rồi thầy ơi. Tuy vậy thầy vẫn chưa hài lòng, được cô chủ nhiệm thông báo rằng thầy thấy các em chưa tỏ ra hứng thú với môn toán (trừ Hải, dĩ nhiên), rằng đáng nhẽ ra khi thấy một lời giảng hay, các em phải mở to mắt ra, và tỏ ra vui sướng với điều đó, đứa nào đó phân công ngay “Lan, mày là lớp phó phụ trách học tập, mày có trách nhiệm nối vào mắt từng đứa một sợi dây, chờ tới khi thầy Thụy giảng được cái gì hay thì mày giật một cái, cả lớp trợn mắt lên, hẳn là thầy sẽ hài lòng”. Nói đùa vậy nhưng từ đó cả lớp cũng có cố gắng hưởng ứng hơn vì quả thật là thầy đã làm cho môn toán tưởng chừng khô khan trở nên dễ nuốt.

Ngày thi nói tiếng Nga, Phương lớp trưởng chu đáo bảo cả bọn, mình phải pha nước chanh cho các cô, trời nóng thế này, cả bọn răm rắp làm theo, nào cốc, nào chanh, nào đường, cái gì cũng có cả, mà đến thìa thì không có, một đứa nhanh nhẩu lấy ngay cái bút bi, rút ruột ra và dùng vỏ … nguấy đều. Cả bọn bảo nhau, sau này mà có làm giáo viên thì đừng bao giờ uống nước chanh của học sinh nhé.

Thời gian không làm cho cô Thủy già đi, hè vừa rồi gặp cô ở Toronto, trông cô vẫn trẻ trung, đẹp và vui tính. Nhớ vô cùng những buổi cô tâm đắc đọc lại bài viết của Phong cho cả lớp nghe, cả lớp lặng đi trước những xót xa với thân phận chị Dậu được diễn tả rất sống qua cách viết của Phong và với giọng du dương của cô. Hẳn là cô Thủy tự hào về việc đã nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sỹ của Phong để sau này Phong thành trưởng khoa Văn Đại học Sư Phạm. Đến ngày thi đại học, đọc đề thi “Em hãy phân tích nhân vật chị Dậu…”, mình nhớ cô Thủy, nhớ bài viết của Phong, và… tranh thủ cóp lỏm của Phong vài ý tưởng, may mà hồi đó chưa có “bản quyền tác giả”.

Thầy Phú bố của Phương dạy Lý cũng rất hay, thầy chỉ dạy thay cho cô Dung một giai đoạn nhưng lớp mình ai cũng thích tính thầy. Thầy không chỉ dạy môn Lý, mà thầy còn tranh thủ dạy cả đạo đức cũng như cách sống. Năm đó mình đã ra ngoại trú, đi từ nhà đến trường hàng ngày nên hay đi học muộn, tình cờ sao mà lần nào cũng gặp thầy. Một hôm thầy vào lớp và hỏi “Theo phương pháp quy nạp, ngày hôm nay, tôi gặp một em đi học muộn, ngày hôm sau tôi lại gặp em đó đi học muộn, bẵng đi một thời gian, tôi lại gặp cũng em đó vẫn đi học muộn, tức là sao?”  Cả lớp đồng thanh, tức là bạn đó luôn luôn đi học muộn ạ, mình đỏ bừng mặt nhưng rất biết ơn thầy đã nói nhẹ nhàng, lại không nêu tên mình trước lớp, nên từ đó luôn cố gắng đi học cho đúng giờ hơn.

Nhanh thật, mới đó mà đã 30 năm kể từ ngày bọn mình vào trường, lớp có 45 học sinh, số lượng con gái chỉ ba mấy đứa mà đã có 4 Lan (Hương Lan, Ngọc Lan, Phương Lan, Tú Lan), 5 Hà (Hồng Hà, Minh Hà, Ngân Hà, Thanh Hà, Vũ Hà), báo hại cả lớp phải gọi rõ ràng tên và đệm, kẻo không đứa nào thưa. Đến tận bây giờ gọi cho Hùng Khốt, vẫn nghe “Phương Lan đấy phải không?”, mình hơi ngỡ ngàng, bên Canada này thường chỉ gọi mình đơn giản Lan Phạm, chữ Phương đã gần như quên mất.

Hôm nay là ngày các bạn gặp lại nhau nhân dịp 30 năm ngày vào trường, mình không thể về để cùng nhau hò hét, cùng nhau cười ra nước mắt khi nhớ lại những kỷ niệm khó quên trong hai năm rưỡi tại chuyên ngữ nên đành ngồi viết ít dòng cho nỗi nhớ vơi đi, mà chẳng thấy vơi đi chút nào. Bạn nào đó nói đúng, càng già càng thấy nhớ thêm.

Phạm Phương Lan (K13B)
Toronto, Canada.
lanpham03@gmail.com

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Nhớ về Chuyên ngữ (5): Bữa cơm nội trú

Tôi phải nói rõ, tất cả những gì tôi kể trong loạt bài này là chuyện của 30 năm trước, kẻo nhiều người khi tìm trong google thông tin về Chuyên ngữ để cho con hay cháu thi vào trường, nếu không đọc kỹ lại tưởng ở đây toàn lũ học trò nghịch như quỷ sứ và đói khát, mà ngại ngần phân vân chăng. Tôi có ý nghĩ lẩn thẩn này từ vài bữa nay, khi vào gu-gờ tìm theo từ khóa "chuyên ngữ"  thì mấy bài "Nhớ về chuyên ngữ" luôn nằm trong trang đầu. Còn nữa, nếu bạn đang chuẩn bị dùng bữa, xin khoan hãy đọc bài này: tôi sẽ cảm thấy áy náy nếu vì những điều tôi sắp kể đây mà bữa ăn của bạn kém ngon.

Nhiều năm sau này, mỗi dịp chúng tôi ngồi cùng nhau ôn lại bao kỷ niệm thời Chuyên ngữ, không ai có thể quên những bữa cơm nội trú. Bởi thời đó có thể vắn tắt bằng một chữ: ĐÓI. Như câu thơ trong bài thơ "Chuyện kể về già" sinh viên ai cũng biết:

Sáng lên lớp nghe bụng gào dữ dội
Chút hành phi cũng gợi nhớ nhà.

Quả thật tôi quên khuấy thời đó chúng tôi ăn sáng như thế nào. Thường là không ăn gì. Thảng hoặc có tiền thì chạy ra cổng trường lót dạ cái bánh sắn, hoặc bát cháo.

Buổi trưa buổi chiều học về, vứt cặp vào phòng xong là chạy ngay ra bếp ăn tập thể của Trường lớn (học sinh Chuyên ngữ chung nhà ăn với sinh viên đại học). Phải ra sớm, để đỡ xếp hàng đông. Có ai muốn bụng đói đứng chầu cơm! Một lý do nữa là mâm cơm chia ra, không ngồi vào ăn ngay thì lũ ruồi ăn tranh hết mất. Đã có lần mấy đứa con trai chúng tôi mải chơi đá bóng, lúc ngồi vào ăn thấy xoong cơm bị ruồi bu đen, kinh quá phải xúc lớp cơm trên mang đổi dưa.

Bọn con gái ăn ít, hay mang cơm thừa đổi dưa với cà muối, chứ mấy thằng con trai đang tuổi lớn, ăn khỏe như trâu, cơm có dư đâu mà đổi dưa cơ chứ. Dù là gạo hẩm, vàng ệch, lẫn toàn thóc và sạn, chúng tôi vẫn chén sạch, dù có phải nhai cơm không, khô khốc như bò nhai rơm. Cái thứ gạo hẩm không có chất này dù có ăn dăm bảy bát thì cũng chỉ mấy tiếng sau là lại đói meo. Mỗi mâm cơm 5-6 đứa, bao giờ cũng có 3 xoong nhôm: 1 xoong cơm, 1 xoong canh và 1 xoong thức ăn mặn. Canh thì mùa nào thức nấy, nghĩa là mùa hè thì rau muống, mùa đông thì cải xoong. Thức ăn mặn thường là lạc rang muối, thỉnh thoảng có thịt lợn kho đậu phụ, gọi là có. Tiêu chuẩn 3-4 lạng thịt một tháng, không bằng thằng con tôi bây giờ ăn một bữa, chưa kể còn bị bớt xén. Sau này chúng tôi thường mang theo lọ muối rang, rắc vào cơm cho đỡ nhạt miệng. Có lần chúng tôi kêu ca ăn cải xoong mãi chán lắm, cô Việt thương quá phải an ủi, rằng cô nghe nói cải xoong ăn bổ máu. Chẳng biết có bổ thật không, nhưng tôi không bao giờ quên có lần đang ăn thì bọn con gái mâm bên cạnh ré lên kinh hoàng, bỏ chạy tán loạn. Hóa ra trong xoong canh của chúng có ... con đỉa trâu. Mâm bên này, chúng tôi sững sờ, nhìn nhau rồi ... ăn tiếp.

Cái bếp ăn tập thể bẩn và hôi hám, tối tăm quá, chúng tôi thường bắt chước các anh chị sinh viên, bê luôn cơm ra ngồi ăn ngoài sân. Dù có phải ăn cơm không hay rắc muối, chẳng mấy ai dám động đến nước mắm - chúng tôi gọi là nước giọt gianh - vì cái vị chát chát đắng đắng như nước hàng pha nước lã, cộng với mùi thum thủm cá ươn, và vì chúng tôi tin chắc rằng cái thùng đựng nước "giọt gianh" ấy là bể bơi của lũ chuột cống.

Năm đầu mới vào, thấy mấy thằng chúng tôi lỉnh kỉnh thìa đũa bát, các anh năm trên cười nửa miệng. Y rằng sang năm sau, bát vỡ và mất hết, chúng tôi mỗi đứa chỉ dùng một cái thìa. Sang năm cuối, cả mâm 6 đứa còn lại 3, rồi 2, rồi 1 cái thìa dùng chung. Không hẳn vì chúng tôi không có nổi tiền mua bát, mà đơn giản là tụi con trai lười rửa bát, và đơn giản hơn nữa là nhiều hôm chẳng có nước mà rửa bát. Những hôm mất nước, bể cạn trơ đáy, thì nồi canh bẩn chẳng kém gì nước ruộng, chúng tôi chỉ dám gạn ăn nửa trên.

Thời đó ngày càng đói kém, sinh viên phải ăn cơm độn mì. Bột mì viện trợ của Liên Xô, nhà bếp đem cán mì sợi trộn vào chảo cơm, mấy bữa đầu còn thấy sợi mì, sau toàn mì vụn. Mấy bà cấp dưỡng cẩu thả, cứ xúc từng xẻng mì vụn tương vào, mì vón từng cục, làm sao chín được. Một hôm, sinh viên nội trú bê nguyên những xoong cơm lẫn với các tảng mì vón lổn nhổn to như quả cam quả bưởi đó về ký túc xá, bày ra trước cửa, rồi đồng loạt bãi khóa. Giám hiệu nhà trường xuống kiểm tra, bổ những "quả bưởi" đó ra, bên trong mì vụn vón cục còn khô nguyên. Ai đó phụ trách nhà bếp bị cách chức. Tình hình ăn uống được cải thiện đôi chút. Nhờ các anh chị sinh viên đấu tranh kiên quyết mà học sinh chuyên ngữ chúng tôi cũng được nhờ. Sau lần đó, ngươi ta không độn mì sợi nữa, mà nặn bột mì thành từng miếng to như bàn tay, luộc lên, chia cùng với cơm. Chúng tôi gọi đó là "nắp hầm". Món này cứng, nhai muốn trẹo quai hàm, nhưng không đến nỗi bị sống hoàn toàn như mì sợi vón. Không ăn hết có thể gói mang về, buổi tối học bài đói bụng mang ra nhấm nháp cũng thấy ngon.

Mấy đứa ngoại trú hay mang theo cơm trưa, thỉnh thoảng vẫn chia sẻ cơm và thức ăn cho bọn nội trú chúng tôi, những hôm cơm nhà bếp không thể nuốt nổi.

Biết và thương chúng tôi đói, nhưng các thầy cô cũng chẳng thể giúp được gì, vì thời đó cán bộ công nhân viên chức, kể cả giáo viên, đều nghèo rớt mồng tơi, lại nuôi cả bầy con nhỏ. Người ta vẫn nói "giàu thủ kho, no nhà bếp, vừa giàu vừa no là sếp". Cứ nhìn quần áo thì thấy các thầy cô của chúng tôi đều nghèo. Chỉ có mấy thầy cô dạy ngoại ngữ, thỉnh thoảng được đi du học, thì mới có đồ tinh tươm chút.

Thỉnh thoảng về thăm nhà, chúng tôi lại mang theo ít lương thực, nhóm nội trú có mấy bữa tạm no no. Cảnh nấu cơm trong nội trú thì nhiều người kể rồi:

Từng tập thơ tình hiến thân vào bếp
Cho gạo trong nồi chuyển hóa thành cơm
Mái tranh nghèo vất vả sớm hôm
Cũng nghĩa tình biến mình thành lửa khói ...

Nấu bằng giấy, bằng củi thì thường có khói có tro, hay bị lộ, giám thị bắt được phiền hà, nên về sau chúng tôi hay nấu bếp điện (dây may so). Có mấy anh năm trên còn thiết kế cả cái thùng gỗ như thùng để đồ đầu giường đứa nào cũng có, khoan lỗ luồn dây điện vào nấu trong thùng. "Cảnh sát trưởng" có thình lình ập vào phòng thì nhẹ nhàng đậy nắp thùng lại là ... tỉnh bơ. Để nấu cho nhanh, cơm cạn không cần tắt bếp, khi nào bắt đầu khét thì lật ngược nồi, đun phía vung đến khi cũng bắt đầu khét là được. Nhiều cháy càng tốt, dễ ăn hơn cơm trắng nhạt nhẽo, lại dễ bốc bằng tay :)). Nếu cơm khô quá, đã có món canh (không mì chính, không dầu mỡ) nấu bằng nắm lá khoai lang hái trộm ở vườn của cô Tú.

Nhớ lại cái cảnh ăn cơm nội trú kinh hãi đó, tôi không chút lăn tăn tham gia ngay từ ngày đầu vào chương trình "cơm có thịt" cho trẻ em nội trú dân tộc vùng cao do nhà báo Trần Đăng Tuấn khởi xướng. Mình chẳng rủng rỉnh tiền bạc gì, nhưng cứ nghĩ nếu mỗi tháng trích từ lương ra 200-300 ngàn đồng (trong khả năng của tôi), thì sẽ có thêm 2-3 đứa trẻ con miền núi được ăn ngày một bữa cơm có thịt. Thôi thì cũng chỉ mong làm được một điều tốt nho nhỏ trong đời.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Nhớ về Chuyên ngữ (4): Nhất quỷ nhì ma

 
Ở Chuyên ngữ có một người mà tất cả học sinh đều sợ. Đứa ngoan cũng sợ, đứa nghịch ngợm lại càng sợ. Đó là thầy Hoạt, được chúng tôi gọi là "cảnh sát trưởng". Không sợ sao được, khi thầy Hoạt như có 10 cặp mắt, luôn nhìn thấu mọi tội lỗi, mọi trò nghịch ngợm của học trò. Thầy dạy toán, nhà thầy ở dãy tập thể giáo viên ngay trước cổng trường.

Tiết học nào rỗng, cả lớp đang nhao nhao cười đùa, mà thoáng thấy bóng thầy là im bặt. Giờ nghỉ trưa, thầy thường đảo qua hành lang khu phòng nội trú, không may cho đứa nào quậy phá mất trật tự bị thầy tóm được, nhẹ thì ăn mắng, nặng thì bị xách tai lên văn phòng. Buổi tối, thầy lại sang trường tuần tra vài vòng, nhiều hôm tay còn lăm lăm cái roi. Mấy thằng tè bậy ở góc tường bị thầy bắt được, ăn roi quắn đít và còn bị bắt xách nước rửa, mà thằng nào cũng ba chân bốn cẳng rửa cho nhanh, vì sợ tụi con gái biết chuyện thì ê mặt. Không may nhất là thằng Ng., không những bị bắt vì tè bậy, lại còn thêm tội từ tầng 2 tè trúng đầu thầy.

Buổi sáng tinh mơ, thầy lại ngó sang, đứa nào chậm chân hoặc lười, không chịu ra sân tập thể dục cũng bị thầy mắng té tát, lôi tuột ra khỏi chăn. Ngộ nhất là thằng V. có lần hốt quá, nó vội chạy ra sân chưa kịp cài quần.

Hồi đó nhiều đứa ghét thầy Hoạt lắm, nhất là mấy anh năm trên còn bàn nhau chơi khăm thầy vài bận. Nhưng sau này, lớn lên, chúng tôi hiểu đó là thầy lo toan, dạy dỗ chúng tôi như con đẻ. Vì thế, đứa nào cũng nhớ, cũng quý và biết ơn thầy vô cùng. Nếu không có "cảnh sát trưởng" Hoạt, những trò nghịch ngợm của chúng tôi chắc chẳng còn giới hạn nào nữa, vì ở nội trú xa nhà, có cha mẹ bên cạnh đâu mà quản.

Ngay từ năm đầu (lớp 8/10, tức 10/12), chúng tôi đã được các anh năm trên bày cho một trò: lén vào nhà ăn tập thể, thừa lúc vắng người, múc một nồi nước mắm (gọi là nước mắm cho oai, chứ hồi đó chúng tôi gọi là nước giọt gianh - một thứ nước nâu nâu, chát đắng như nước hàng và thum thủm mùi cá ươn) từ cái thùng to, rồi trèo lên bàn và đặt nồi đó lên cánh quạt trần. Các bạn thử hình dung khi có người bật quạt trần!

Chúng tôi cũng được các anh năm trên dạy cho chiêu làm lửa bằng mẩu bút chì và hai đoạn dây điện. Chiêu này cần vì sau này chúng tôi hay lén nấu bữa super ban đêm ở trong phòng, ăn cho đỡ đói, mà nhiều khi chẳng có diêm. Hay đun nước sôi bằng "tàu ngầm": hai lưỡi dao lam kẹp vào chiếc đũa. Hồi đó điện yếu, mỗi lần chúng tôi đun nước thì bóng đèn điện còn tối hơn cả đèn dầu. Được cái nhanh lắm, mấy giây là có ngay ca nước sôi. Mà có lẽ chỉ có ở khu nhà Unicef dây cáp điện ngầm mới đủ sức tải những cú đun bằng "tàu ngầm" kiểu này.

Một trò tiêu khiển của tụi con trai là vây bắt sống những con chuột chạy vào phòng, rồi tẩm dầu và đốt cho chuột chạy loạn lên. May mà không bị cháy nhà. Nhưng sau lần dãy nhà tranh sát khu Unicef bị cháy trụi vì chập điện, chúng tôi rén, không dám chơi trò này nữa. Thay vào đó, chúng tôi diệt chuột bằng điện, rồi treo chuột trước của phòng tụi con gái. Có lần, chúng tôi tóm được một con rắn to, đập chết rồi thì đặt ngang cầu thang tầng hai. Mấy chục đứa con gái ở tầng hai, chẳng đứa nào dám bước qua để lên lớp học, mãi sau chúng nhờ một thằng vứt con rắn đi, mới dám qua. May vụ đó không bị thầy cô phát giác. Còn nhiều lần bắt được thạch sùng hoặc gián, bỏ hộp diêm lén cho vào cặp tụi con gái nữa chứ.

Tôi đồ rằng tụi con gái cũng không thiếu trò nghịch, chẳng qua kín đáo không ồn ào như con trai, nên ít người để ý. Mấy nữ nhân lớp tôi hay kể chuyện ma quỷ, "ma mặt trứng" thì phải. Thế rồi tự chúng thành nhát ma, tối tối không dám đi một mình từ phòng ở lên lớp học, mà chỉ cách nhau cái sân rộng hơn chục mét.

Một điều trớ trêu là nhà vệ sinh của trường, mà chúng tôi gọi là "Nhà trắng", lại nằm trong khu vườn thẳng ngay phía trước cổng trường, thế nên đứa nào đi ra đó vào ban ngày cũng có cảm giác bị bao cặp mắt soi. Đôi lúc mấy thằng bạo trợn cứ đứng trên hành lang lớp học, gióng giả: "Em ơi đi đâu chờ anh đi cùng với". Nhiều đứa con gái xấu hổ, cứ giả vờ lượn vòng vòng qua mấy dãy nhà tranh tập thể cán bộ trường, rồi mới lén chạy ù vào "Nhà trắng".

Thỉnh thoảng, chúng tôi lén trèo tường ra hái trộm dưa lê của dân Đồng Xa. Nhưng sau mấy lần bị rình đuổi chạy trối chết, chúng tôi cũng sợ, không dám hái trộm dưa nữa. Chỉ có vườn rau khoai lang của cô Tú ở góc tường là không thoát khỏi phận hẩm, vì mỗi đêm chúng tôi lại ra tỉa một nắm lá về nấu canh, góc này thưa lá lại sang góc khác. Vườn rau của cô trồng lâu lâu mới thấy cô cắt được một mẻ. Cô thừa biết học sinh hái trộm, nhưng tính cô hiền, và chắc cũng thương học trò đói ăn, nên cô chẳng mắng tụi tôi bao giờ.

Đỉnh điểm của các trò nghịch là vụ các anh K11 bọc kín một anh trong chiếu, bịt mặt, chỉ để nude vòng 3, đặt anh ấy lên bệ của sổ lớp học, rồi chiếu đèn vào, sau khi đã đập bàn đập ghế ầm ĩ để thu hút sự chú ý của tụi con gái ở dãy nhà nội trú sát bên. Show diễn làm cả trường một phen náo loạn. Chắc là vụ này thầy cô không biết, vì hội con gái xấu hổ chẳng dám kể, còn hội con trai thì dại gì mà "lạy ông con ở bụi này".

Các trò nghịch thì nhiều không kể xiết, nhiều phen chúng tôi cũng bị phê bình, nhắc nhở, thậm chí bị kỷ luật, hay ăn vài roi của "cảnh sát trưởng". Nhưng đời học trò mà không có mấy vụ quậy phá như thế thì buồn chết. Và chúng tôi lớn lên, ra trường, mỗi đứa một phương lăn lộn trong đời. Những trò nghịch hơn quỷ sứ ấy lại là những kỷ niệm khó phai nhất, mỗi khi chúng tôi nhớ về Chuyên ngữ./.

(còn nữa)

Nhớ về Chuyên ngữ (3): K13A, K13B

Những năm trước mỗi khóa Chuyên ngữ tuyển 4 lớp, nhưng từ K12 chỉ tuyển 2 lớp. Khóa chúng tôi, K13, 90 học sinh chia làm 2 lớp: K13A có 45 đứa (một nửa học tiếng Anh, một nửa học tiếng Pháp), K13B có 45 đứa, học tiếng Nga. Về sau này Chuyên ngữ lại tuyển sinh đông dần lên, như hiện tại mỗi năm tuyển hơn 400 học sinh, vào các lớp tiếng Anh, Pháp, Nga, Đức, Nhật, Trung.

Hồi đầu, học sinh Chuyên Ngữ bắt buộc phải vào nội trú, nhưng sau cơ sở vật chất thiếu quá, mà ở nội trú cực quá, nên các bạn nhà Hà Nội thường xin ở ngoại trú, buổi trưa mang cặp lồng cơm ngồi ăn ở lớp, trong khi nội trú bọn tôi ra nhà bếp ăn cơm tập thể. Tuy thế, nhiều bạn ngoại trú cũng đã có dịp thưởng thức thế nào là "ăn như chăn nuôi, ở như chuồng trại". Nhiều bạn hay mang thêm đồ ăn từ nhà đi, chia sẻ cho tụi nội trú chết đói chúng tôi.

Ba năm học với nhau, kỷ niệm thật nhiều và thật sâu sắc, kể mãi cũng không hết, nên tôi muốn để dành phần này cho các bạn cùng kể lại nhé. Tôi xin post lên đây mấy bức hình mà tôi còn giữ lại được. Hình không đẹp, lại mờ, nhòe, ố vàng theo năm tháng. Nhưng đằng sau là những tháng ngày thật đẹp của tình bạn, tình thầy trò.

K13A - 1984


K13A - tiếng Pháp - 1984
 
K13A - ít nam quá! 1983 (cùng cô Thủy và thầy Tá)

K13A - mấy thằng nội trú cười quên đói!



K13B

K13B

K13B

 (còn tiếp)

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

Nhớ về chuyên ngữ (2): Buổi học đầu tiên


Sau một tối ngủ ít, tiết học đầu tiên làm tôi choáng váng: đó là tiết tiếng Pháp. Tôi cứ tưởng phải học từng từ, rồi ghép từ thành câu. Nhưng không, sau câu chào bằng tiếng Việt, thầy Tường cho một tràng tiếng Pháp làm cả lũ chúng tôi mắt tròn mắt dẹt. Rồi ngay sau đó, chưa biết một từ nào, đã phải học thuộc lòng những câu dài "lê thê": "Est-que je peux sortir/entrer, s'il vous plait?" (Thưa thầy, em xin phép ra ngoài/vào lớp), cùng với lời cảnh báo của thầy: "Nếu không học thuộc, thì đừng có hòng xin ra/vào trong giờ học" (ý thầy là nếu không nói được câu tiếng Pháp đó, thì chỉ còn nước tè ra quần trong lớp :)).
Chỉ sau vài tiết tiếng Pháp, chúng tôi, chia động từ être chưa xong, đã phải học ngay mấy bài hát "C'est à Capri que je l'ai rencontré" và bài "Au jardin des animaux". Nhưng phải công nhận cách dạy này làm chúng tôi học ngoại ngữ rất nhanh. Thầy không có dạy từ vựng, các anh chị tự về mà tra từ điển. Rồi cuốn giáo trình tiếng Pháp (chắc là in ở Pháp) giấy trắng tinh, đẹp như mơ cũng làm chúng tôi ngây ngất, vì chúng tôi đã quen với sách giáo khoa cũ sờn giấy đen thui. Sau này, chúng tôi mới hiểu rằng nội dung giáo trình Pháp văn đó được biên soạn cho phù hợp với thời bao cấp cách đây 30 năm, nên nó thật là ngô nghê. Toàn những đoạn hội thoại kiểu như:
- Hòa Bình, viens voir! (Hòa Bình, lại coi này)
- Qu'est-ce que c'est? (Gì thế?)
- Un tracteur. (Một cái máy cày!)
- Un tracteur? (Máy cày ư?)

hay:
- Où est Trường Sơn? (Trường Sơn đâu rồi?)
- Il est sous la table? (Cậu ta ở dưới gầm bàn.)
- Qu'est-ce qu'il fait? (Cậu ấy làm gì thế?)
- Il cherche son stylo. (Cậu ấy tìm cây bút.)

Chẳng có tý ty ông cụ nào liên quan đến văn hóa hay xã hội của nước Pháp, những điều mà chúng tôi khát khao muốn biết về một đất nước văn minh. Sau này sang Nga, tôi mới biết giáo trình tiếng Pháp bên đó còn tệ hơn nữa, của những năm 60-70, toàn những bài từ báo L'humanité (cơ quan ngôn luận của ĐCS Pháp), hay đại loại như vậy, làm chúng tôi cứ tưởng như nước Pháp chỉ toàn Đảng viên Cộng sản.

Tuy nhiên vào thời ấy, chúng tôi lần đầu học ngoại ngữ, tất cả những thứ "ngô nghê" đó đều thật là mới mẻ, thật là hấp dẫn. Cô Hương, cô Khang dạy tiếng Pháp siêu lắm, chúng tôi ngưỡng mộ vô cùng.

Những tiết học khác đối với tôi cũng thật tuyệt vời. Các thầy cô Chuyên ngữ dạy giỏi hơn các thầy cô ở Thái Nguyên của tôi. Thầy Cầu giảng Lý thật dễ hiểu mà nhanh gọn, nên bao giờ cũng dư 10-15 phút cuối giờ nói chuyện chính trị, xã hội, mà chủ yếu là ca ngợi Liên Xô. Thầy Cường dạy toán quá hay, thích hợp với học sinh khá. Tôi được các anh chị năm trên rỉ tai rằng đứa nào giỏi toán nên học thầy Thụy (giải toán toàn nhảy cóc), đứa nào kém toán nên học thầy Kưu (chậm rãi từng bước nhỏ). Cô Chi giảng văn hơi nhạt, nhưng năm sau lớp tôi học văn cô Thủy thì vui như Tết, vì cô hay dành thời gian đọc thơ tình cho học trò nghe. Thầy Thu dạy Sử, thầy Thung dạy Sinh, thầy Quang dạy Hóa, thầy Thiêm dạy Văn đều rất hay.

Cô Việt hiệu trưởng ân cần dạy bảo, các thầy các cô cũng chăm lo cho chúng tôi như con đẻ. Cứ thế, bao thế hệ học sinh trưởng thành từ "lò Chuyên ngữ". Đến này đã là khóa thứ 43 rồi. Các thầy cô dạy chúng tôi ngày ấy đã về hưu từ lâu, nhiều thầy cô đã mất. K13 chúng tôi nay tóc bắt đầu bạc, nhiều bạn có con đang học Chuyên ngữ, nhưng có lẽ chẳng ai quên được những kỷ niệm về một thời Chuyên ngữ.

(còn tiếp)

Nhớ về Chuyên Ngữ (1): Ngày vào trường

Bây giờ ở Hà Nội có nhiều lớp Phổ thông chuyên ngoại ngữ, chứ 30 năm trước, nói chuyên ngữ là nói về Trường Phổ thông trung học chuyên ngoại ngữ, thuộc Đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội. Gần 3 năm học nội trú ở Chuyên ngữ đối với tôi là những năm tháng thật khó quên.

Tôi vào Chuyên ngữ gần như là sự tình cờ. Tốt nghiệp lớp 7, được miễn thi chuyển cấp, vào thẳng cấp 3, dự kỳ thi vào Chuyên toán Thái Nguyên xong, là tôi tếch về nhà ông bà ngoại ở Làng Cót, Hà Nội và làm hàng mã kiếm tiền, cốt để bớt một miệng ăn cho cái nồi cơm lúc nào cũng độn khoai của gia đình (bố mẹ tôi là công nhân viên chức ở Khu Gang thép, và hai đứa em lớp 1 lớp 2). Bà chị họ ở Hà Nội là học sinh Chuyên Ngữ K10, vừa thi Đại học xong, rảnh rỗi, cũng sang nhà ông bà ngoại làm hàng mã, và cả ngày kể chuyện về Chuyên ngữ. Nhờ vậy tôi biết các thầy cô giáo ở Chuyên ngữ dạy giỏi lại rất nhiệt tình. Thầy Cầu dạy Lý, ở phố Bà Triệu, đẹp trai, nói chuyện có duyên. Thầy Quang dạy Hóa, nhà ở Bùi Thị Xuân, nổi tiếng là lãng tử ... Bà chị chắc chỉ thần tượng các thầy nên ít kể về các cô giáo, hì hì. Tôi cũng biết học nội trú ở Chuyên ngữ được tiêu chuẩn gạo cao hơn ở địa phương. Học sinh Chuyên ngữ học khá trở lên là thi Đại học dễ đủ điểm sang Nga du học. Toàn những điều hấp dẫn. Chẳng còn gì để lăn tăn. Ra ngay bưu điện, gửi điện nhờ bố mẹ chuyển gấp hồ sơ về Hà Nội, vì chỉ 3 ngày sau là hết hạn nộp hồ sơ.

Rồi hôm thi, tôi lo lắng thực sự, vì hơn một ngàn thí sinh từ khắp Miền Bắc chỉ tuyển có hơn 100, mà bọn nhà quê lớ ngớ như tôi khó lại được các bạn đồng niên ở Hà Nội. May sao tôi lọt. Nhưng thử thách chưa hết. Bởi vòng 2 là thi năng khiếu. Tôi không nói ngọng, nói lắp, nhưng chưa bao giờ được học ngoại ngữ. Thế là suýt trượt ở bài test nghe và bắt chước phát âm lại những từ mà tôi không hiểu, thậm chí chẳng biết là tiếng nước nào. May thay, tôi được vớt vào danh sách 90 đứa trúng tuyển.

Nhận giấy báo đỗ Chuyên Ngữ cùng lúc biết tin Thái Nguyên hoãn mở Lớp Chuyên toán, thế là tôi chẳng còn gì phải lựa chọn. Tuy vậy, cũng phải đến đầu học kỳ 2 (lớp 8 hệ 10 năm), sau Tết Âm lịch, chúng tôi mới được nhập trường. Nghe nói vì năm đó thiếu gạo thiếu tiền nên Chuyên ngữ chiêu sinh muộn. Ông chú cho tôi cái thùng gỗ để đồ: vài bộ quần áo, mấy quyển vở, chăn màn, và lọc cọc xe đạp đèo tôi vào trường. Ở cổng trường, gặp toàn những đứa cũng 14 tuổi, cũng ngơ ngơ ngác ngác như mình, cũng lễ mễ bê cái thùng sắt hay thùng gỗ đặc trưng của học sinh nội trú.

Phiếu nhập học của Lê Dung K13B (Nga) PTTH CNN
Giấy chứng nhận vào lớp 8 PTTH CNN của Như Quỳnh K13A (Pháp)

Trường Chuyên ngữ lúc đó ở khu nhà Unicef phía góc cuối trường Đại học SPNN, sát cánh đồng lúa. Cánh đồng đó bây giờ một bên là đường Phạm Văn Đồng, một bên là đường Trần Quốc Hoàn. Khu Unicef gồm 4 dãy nhà lắp ghép, khang trang hơn hẳn những dãy nhà tranh vách đất tập thể sinh viên Đại học SPNN. Đêm đầu ở nội trú không thể ngủ được vì lạ nước lạ cái. Hầu hết chúng tôi chưa từng ngủ giường tầng, lại gần hai chục đứa ở cùng một phòng, nói chuyện râm ran đến gần sáng thì cơn buồn ngủ mới đè bẹp được tâm trạng háo hức bồn chồn.

(còn tiếp)

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

Em có về B4 chúng mình xưa

(Trần Văn Thi)

Vẫn B4 của 30 năm trước (ảnh: HAT) *
Tác giả Trần Văn Thi là thầy giáo dạy tiếng Nga của chúng tôi ở Trường PTTH chuyên ngữ (ĐHSPNNHN) đầu những năm 80. Sau này, khoảng 1989-1990, tôi có gặp thầy ở Moscow, khi đó thầy sang công tác, làm phiên dịch tiếng Nga ở Nhà máy ô-tô ZIL. 

B4 là tòa nhà giảng đường chính của sinh viên ĐHSPNN hồi đó, và bài thơ cũng viết về thời sinh viên. Nhưng đối với hầu hết học trò từ lò chuyên ngữ chúng tôi, B4 là một cái tên rất đỗi thân thương. Bởi tuy chúng tôi học ở khu nhà Unicef, nhưng nhiều tiết học ngoại ngữ lại học ở nhà B4, và sau này lên đại học phần lớn chúng tôi lại học ở chính tòa nhà ấy. (HAT)


Em có về B4 chúng mình xưa
Nơi gắn bó cả một thời vất vả
Những buổi chiều tan học về vội vã
Công viên chờ xao xác lá vàng bay.

Em đã đi rồi, đừng quên nhé nơi đây
Năm năm ấy buồn vui thành kỷ niệm
Trường cháy mấy lần, gió mùa đông bắc đến
Sân ướt đường trơn, dột nát chỗ nằm.

Vách đất gió lùa rét căm căm
Đêm trằn trọc mong tìm thêm hơi ấm.
Em bảo nơi này nuôi em khôn lớn
Cho chúng mình năm tháng đợi chờ nhau.

Trên ghế nhà trường đã mong ước mai sau
Làm cô giáo mong giờ đầu tập giảng.
Em thao thức với từng trang giáo án
Gửi hồn em trong tiếng trẻ học bài.

Em xa xôi đừng quên nhé nơi này
Phượng vẫn nở như buổi đầu hò hẹn
Tiếng ve ran gọi mùa thi đến
Nhịp guốc cầu thang ngỡ em vẫn đến trường./.

------------------
* Chiều nay tôi về thăm B4. Vẫn B4 của một thời xa ấy. Chiều đông buồn xao xác lá bàng bay. Chụp vội tấm hình kẻo nhỡ mai này. Người ta phá, chia đất nền ra bán (31.01.2012. - HAT)

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

CHIẾC HỘP BÍ MẬT (Đỗ Mạnh Hùng)


(Đỗ Mạnh Hùng - K13B - Chuyên ngữ SP)

       Kính tặng các Thầy cô giáo và các bạn K13 chuyên ngữ
       Phỏng theo: tản văn "Chuyên ngữ - một thời để nhớ" của Phan Linh Cẩm K13B

Chắc mọi người không biết
Trên tủ nhà mình có chiếc hộp oai phong
Chiếc hộp cũ niêm phong
Hiên ngang loang màu năm tháng
Nhìn chiếc hộp vợ, con và nhiều người võ đoán
Rất muốn mở ra xem sau những tháng năm dài….
 
Một ngày mưa sau Tết 82
(âm lịch, Bà Khốt nhớ là mùng năm tháng hai)
Giọng cô Việt dặn dò trầm ấm dịu dàng như người mẹ
Ta xa quê - lẻ loi với cả phương trời lạ
Viết thư về,  có: Cầu Giấy, Đồng Xa…
Tàu điện leng keng đón ta khi vừa bước khỏi nhà
Có bước chân cô Dung ngoài hành lang, lớp im phăng phắc
Nuôi Hiệp, nuôi Phương Cô chủ nhiệm mình nghiêm khắc
Tấm gương của cô là bài học đầu tiên cho ta nghị lực bước vào đời..
Là  cô Hằng, cô Hiền, cô Thu khuôn mặt rạng ngời
Nói tiếng Nga, IK, giọng như suối chảy
Là thầy Thụy giải toán khó như thường thấy
Là mùi nước hoa, là cách quay người điệu nghệ
Là cô Chung dậy hóa rất nghiêm, là thầy Thung  bệ vệ
Học sinh chúng em láo lếu, tìm các dấu…để ghép tên thầy.
 
Trong chiếc hộp của anh
Có dáng cô Chung địa hao gầy
Cô Thủy dạy văn về truyền thuyết các thần
Sau này không nghe ai nói hay đến thế..
Còn bố Thu thì bao dung như thể
Sinh ra các con, giọng nói nhân từ..
 
Trong chiếc hộp của anh
Nắp hầm thì cứng, rau cải xoong nấu nhừ
Trường sợ học sinh thiếu canxi, răng yếu
Những người Việt chúng ta, cái gì cũng thiếu (*)
Lọ “DEP”, “ASA”, bôi xong cất kỹ, kẻo bạn dùng nhầm…
 
Là tháng ngày trôi đi
Kim Lan học nhanh, ngủ vụng, hát thầm
Vũ Hà hát mèo đánh Tây - thành “Hà mèo” từ đấy
Kim Thanh, Lan Phương phổng phao trông thấy
Ngọc Lan làm liêu siêu khóa trước, những anh hào…

Trong chiếc hộp của anh
Kỷ niệm rất ngọt ngào
Chọn lọc tự nhiên, bạn bè gán ghép:
“Nam Cúc”, “Sơn Hà”… đọc lên đanh thép
“Long Thúy”, “Hải Hoa”… như Lý Thường Kiệt viết thơ thần..

Kỷ niệm ngày xưa như xa, như gần
Loan Anh bị phê bình lãng mạn
Mai Hoa viết thư chú bộ đội đảo xa, nên học hành chểnh mảng
Ngọc Điệp  ngày xưa, cán sự chính trị nên rất nhiều nền tảng
Hường bút chì xinh hơn, nữ tính đến không ngờ
Hồng Hà cẩn thận, Hà “phích” giỏi toán bạn được nhờ
Lớp trưởng Ngân Hà  tóc bồng bềnh duyên dáng
Hải khai sì - thi đại học mười phẩy năm môn toán
Lê Dung chữ đẹp, Quỳnh Giao hồn nhiên
Thanh Hà, Lan Anh, Minh Tú, Lệ Anh ai cũng bảo hiền
Mai Hương, Phương Nga, rồi Cúc, rồi Huyên…
Hùng đẹp trai như một con bài
Duy Tiến, Anh Tuấn, Hùng khốt, Sơn Trạc - anh tài
Ăn trộm dưa lê, dân Đồng Xa bắt được
Cùng năm tháng lớn lên theo chiếc roi thầy Hoạt
Vinh dog oai phong phát triển vững bền…
Nào giáo sư Phong kính trắng dáng hiền
Chẳng thích bon chen, đi vào văn học…

Nam đất học Thủy lợi xong mất tiêu,
Tốt nghiệp Đại học Y –Long khẹc
Ở Quốc Oai - sếp bảo hiểm một vùng
Nào Linh Cẩm hai bím tóc kết sau lưng
Nào Hương Lan tính vẫn ương như họ
Ai bảo Thúy còi ở Đội Cung cho bạn bè xiên xọ
Tuyến bác học cần cù luyện giọng, giường rung
Từ khi học lớp phó Liên đã bộc lộ tài năng
Nhiệt tình, sát sao chia tem, chia phiếu
Hà Bắc, Kim Lan, Phương Lan đã tỏ ra có khiếu
Hoạt động phong trào, năng động từ xưa…

Trong chiếc hộp cũ kia
Có nhớ cơn mưa
Tưới phượng bằng lăng
Nhưng không dập nổi dãy nhà lửa cháy
Tôi gom những mảnh mê-ca từ ngày xưa ấy
Cặm cụi làm nhẫn, lược vụng về chưa biết tặng ai? (**)

Và bí mật kia theo ta suốt tháng năm dài…
Nằm trong chiếc hộp kia là kỷ niệm tuổi trẻ một thời chuyên ngữ….
 
                                                                     Hà nội, cuối năm 2011.
                                                                     Đỗ Mạnh Hùng

(*)  Tụi nội trú hồi đó bị ghẻ, nhiều đứa bôi thuốc ghẻ màu xanh (xanh mêtylen thì phải) khắp người như hoa gấm, nên hay bị trêu là người Việt gốc hoa.  
       (HAT) - hi hi, thì ra vậy. Nhưng tớ vẫn tạm thời chưa dùng chữ "gốc hoa" nhé.
(**) Hồi dãy nhà tranh bị cháy, cửa sổ dãy nhà UNICEF gần đó bằng mê-ca nên bị rộp, hỏng, nghe nói Long lấy mê-ca làm nhẫn tặng Thúy, Vinh tặng Thanh, Hùng rô tặng Ngọc Lan ... tôi cũng nhanh tay lấy được 1 khúc làm nhẫn và lược để vào chiếc hộp bí mật ... để lưu niệm 1 thời chuyên ngữ và là tiêu đề của bài thơ này. 

-------------------------------
(HAT) - Để thay lời cảm ơn Khốt, tớ post tặng K13B bức hình chụp lớp các bạn, hình như là vào hôm trồng cây ở sân trường.


Trong bài thơ của Khốt có câu:
"Trường sợ răng học sinh thiếu canxi, răng yếu
Những người Việt gốc hoa, cái gì cũng thiếu
Lọ “DEP”, “ASA”, bôi xong cất kỹ, kẻo bạn dùng nhầm…"

Tớ không hiểu ý tứ lắm, viết thư hỏi mà chưa thấy Khốt trả lời, nên tự tiện sửa lại chút:

"Trường sợ học sinh thiếu canxi, răng yếu.
Những người Việt chúng ta, cái gì cũng thiếu
Lọ “DEP”, “ASA”, bôi xong cất kỹ, kẻo bạn dùng nhầm…"

Để tạ lỗi tự tiện sửa bài, tớ post tặng Khốt bức hình này, mặc dù trong chiếc hộp bí mật của  Khốt có thể cũng có rồi :))


Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

CHUYÊN NGỮ - MỘT THỜI ĐỂ NHỚ

(Phan Linh Cẩm - gửi HAT blog)

Tôi vào trường chuyên ngữ hoàn toàn là do quyết định của bố, mẹ. Hồi đó, bố mẹ tôi đều là cán bộ giảng dạy của trường đại học sư phạm Hà nội 1. Sau khi học xong lớp 7 (hệ 10 năm) bố mẹ tôi cho tôi được tuyển chọn và thi tuyển các môn Toán, Văn, Năng khiếu ngôn ngữ để vào trường. Các lý do bố mẹ cho tôi vào học chuyên ngữ là vì học sinh vào trường này được coi như là cán bộ nhà nước - có học bổng và phiếu E, với mức lương thực bao cấp là 18kg gạo/tháng. Với thời kỳ khó khăn đầu những năm 1980, đó quả là một sự thu hút khá lớn. Học ở trường lại rất dễ được đi nước ngoài, nhất là nước Nga, nên bố mẹ tôi, những người từng học ở Nga về, chẳng có sự đắn đo gì mà đưa tôi ngay vào chuyên ngữ lớp Nga.

Nhớ hôm mới vào chuyên ngữ, trời mưa rất to, học sinh được tập trung trong nhà hội đồng để nghe những lời dặn dò ân cần, trìu mến của cô Việt, hiệu trưởng. Cô Việt có giọng nói thật dịu dàng, trầm ấm, như giọng của một người mẹ nói với những đứa con thân yêu của mình. Rồi tôi cũng đi nhận giường trong ký túc xá. Đúng là chẳng biết bao giờ cho đến ngày xưa, thời kỳ bắng nhắng với hai đuôi tóc tết dài, và dáng người gầy gò, điều mà bây giờ chẳng thể nào có được.

Học chuyên ngữ hồi đó thật là thích, học sinh không phải học thêm như bây giờ, các thầy cô thì hết sức nhiệt tình. Lớp được cô Dung chủ nhiệm ngay từ đầu. Vì dạy môn lý nên cô cũng khá nghiêm khắc, chỉ nghe tiếng bước chân của cô đi ngoài hành lang là cả lớp đã im phăng phắc. Đến bây giờ tất cả học trò của cô đều không thể nào quên nghị lực của cô vượt qua khó khăn. Chúng tôi cũng không thể nào quên cách giải bài toán rất điệu nghệ của thầy Thụy, cũng như mùi nước hoa lãng mạn và cách quay người rất nghệ sỹ của thầy. Còn thầy Cường thì nổi tiếng với việc giảng những bài toán một cách vô cùng cẩn thận, nếu học tốt môn toán thầy dạy thì chắc chắn đủ điểm toán để đi học nước ngoài. Cô Chung dạy môn hóa cũng rất nghiêm. Tôi vẫn nhớ việc học chểnh mảng ở lớp 12, chỉ quan tâm đến những môn sẽ thi đại học. Lần đầu tiên trong đời để vở dưới gầm bàn để quay bài trong giờ của cô và đã bị cô bắt gọn. Cô Thủy giảng văn thật lãng mạn, thầy Thu dạy sử lại như một người bố của cả lớp. Hồi đó đời sống còn khó khăn, không có đủ máy móc để luyện tập, nên trong giờ thể dục, thầy Thắng hướng dẫn cho cả lớp tập lộn, hết xuôi lại đến ngược. Không hiểu sao hồi đó tôi khá gầy gò, mà cũng không có năng khiếu thể thao chút nào, chỉ lo bị thi trượt môn thể dục

Trường chuyên ngữ lúc đó cũng không còn quá khắt khe với việc bắt buộc học sinh phải ở nội trú. Do bố tôi xin được một căn phòng nhà lá ở ngay trường đại học sư phạm 1 bên cạnh, nên tôi, Phương lớp trưởng và Điệp, những người đã học cùng cấp 2 với nhau, lại ở cùng nhau, tự nấu nướng, học hành. Tôi vẫn nhớ hồi đó trong lớp có phong trào bói lông mi. Nếu thấy lông mi rụng, được một bạn giấu vào ngón tay mà chỉ đúng ngón, thì ước điều gì sẽ được thành hiện thực. Có lần bói lông mi thành công, tôi đã ước được ăn thịt gà, thế mà chiều đi học về, bố Điệp đã mang thịt gà đến thật. Thời kỳ khó khăn đó, những kỷ niệm như thế chẳng thể nào quên được. Tôi còn nhớ lần cả lớp làm liên hoan, vất vả với món bún chả và phở, thế mà khi ăn sao lại ngon đến thế, ăn xong vẫn thòm thèm vì thức ăn quá ít. Rồi những hôm buổi trưa ở lại trường, mang cơm đi theo ăn, lúc nào cũng luôn mong chờ được Ngân Hà chia sẻ cùng ăn. Mẹ Ngân Hà nấu ăn rất ngon, và hôm nào cũng để vào trong cặp lồng rất nhiều thịt, nhất là món thịt băm viên rán, món xa xỉ hồi đó. Có ăn ở bếp ăn nhà trường với điệp khúc rau cải xoong, bột mì luộc, mới thấy quý thức ăn thế nào. Những lọ muối vừng đầu tuần được mang vào, bao giờ cũng được lắc lên, để lấy những mảnh lạc to ăn trước. Tóp mỡ kho lại nước mắm cũng là món ăn ngon đến thế.

Những hôm biểu diễn văn nghệ, cũng môi son, má phấn, tóc buộc nơ, cùng nhau hát vang những bài tiếng Nga mới học được. Vũ Hà thì dáng người nhỏ bé, hát bài “Con mèo đánh tây” rất phù hợp. Kim Lan thì giọng cũng ấm, nhưng lại hay hát vụng những bài của miền Nam trước năm 1975 nên có khi cũng bị phê bình. Rồi Kim Lan còn nổi tiếng về vụ học nhanh và sau đó lăn ra ngủ nữa chứ. Kim Lan, Hương, Hương Lan có lẽ đã được liệt vào hội ngang, lười học. Hồi đó trong cả hội đói ăn, trông Kim Lan và Phương lớp trưởng khá mũm mĩm so với những cò hương xung quanh. Phạm Lê Dung thì ngay từ khi vào chuyên ngữ đã gây ấn tượng với mầu áo vàng rất ‘dễ nhớ”. Dung hồi đầu khá rụt rè, nhưng chữ viết thì rất đẹp, vì thế bao giờ cũng được giao ghi sổ đầu bài

Những buổi lao động trồng cây ở sân trường vui biết bao. Thế mà cái cây của tổ hai, trồng lại, lần sau cũng vẫn bị bẻ gẫy. Có hôm mặc dù trời mưa, cả lớp vẫn đi nhặt gạch để bán lấy tiền tăng thêm quỹ lớp. Rồi hồi đó, ai nói câu gì hớ là lại bị cả hội xúm vào suy bậy, rồi cười phá lên ầm ĩ. Tôi vẫn nhớ mình phỏng theo bài thơ của Lý Thường Kiệt để ghép tên các đôi bị chế lại với nhau
           Nam Cúc, Sơn Hà, Nam Cúc c…
           Thúy Long, Hoa Hải, Cúc c… c…
Lúc nghĩ ra câu thơ con cóc đó, chẳng có ý gì bậy cả, thế mà khi đọc lên, cả hội đã suy ra, ghép nghĩa đen tối vào đó. Rồi hôm bị cô Thủy gọi lên bảng, đứng trên đó bị cuống, nói: ”thế rồi anh Trỗi liền ấy …”, làm cả lớp cười ầm lên.

Kể ra là học sinh chuyên ngữ thời đó thật ngoan. Lớp chỉ có Loan Anh sớm biết lãng mạn một chút là đã bị phê bình. Mai Hoa có lần viết thư trao đổi với các chú bộ đội ngoài đảo xa, học hành có phần chểnh mảng, cũng bị cô Chung Hóa nhắc nhở. Kim Thanh mắt to, lúc nào cũng rất lãng mạn. Điệp cán sự chính trị thì rất bôn, đã đặt ra quyết tâm gì thì theo đuổi bằng được. Chỉ cần cô Dung nhắc khéo về tật hay ngủ, là Điệp quyết tâm thay đổi, trả lời bằng những điểm cao trong học tập. Thùy cũng nhút nhát, ít nói. Hường cũng như vậy, và hồi đó lớp đặt cho biệt hiệu là bút chì, vì đầu nhọn. Thế mà sau này, khi thành thiếu nữ, Hường trở nên xinh đẹp, nữ tính đến không ngờ. Hồng Hà thì thật cẩn thận, giữ gìn sách vở, đồ dùng học tập rất chu đáo. Minh Hà bị đặt biệt hiệu là Phích vì giống nhân vật đó trong phim hoạt hình “80 ngày vòng quanh thế giới”. Nhờ có việc thi đại học cả lớp được ngồi cùng phòng, tôi đã hỏi được Hà cách vẽ thêm đường trong bài toán hình, mà ngay sau đó tôi không còn phải cắn bút nữa. Ngân Hà thì xinh đẹp, duyên dáng từ sớm, mái tóc bồng bềnh trong gió, nên cũng đã làm nao lòng nhiều đấng mày râu. Quang Hải được gọi theo tên tiếng Nga, “Khai”, là học sinh yêu của thầy Thụy dậy toán. Hùng khốt thì ngoài vấn đề được mọi người phải ngoái nhìn bởi mầu sắc vàng, tím của áo quần, còn gây ấn tượng vì được cô Thủy khen về bài văn. Thế mà hồi đó ở Hùng, tài ăn nói hóm hỉnh còn chưa nổi trội như về sau này. Các bạn trai trong lớp thì được gắn với biệt hiệu theo như mấy câu thơ khá nổi lúc đó:
Trai giao thông như cành dương liễu
Gái giao thông như củ khoai mì
Trai sư phạm như khỉ cụt đuôi
Gái sư phạm như chim anh vũ
Chim anh vũ đậu cành dương liễu
Khỉ cụt đuôi bám củ khoai mì
Đoạn thơ này có lẽ bắt nguồn từ hai trường đại học giao thông và sư phạm vì lúc đó hai trường ở gần nhau. Thế mà các bạn học sinh nữ cấp ba chuyên ngữ cũng lấy làm đắc ý lắm. Còn những chuyện cười, ăn như sư, ở như phạm, phải mượn nhau thuốc ngứa, mà hồi đó nhà sản xuất thuốc ngứa cũng dã man, cứ để màu xanh lè, tố cáo khổ chủ.

Ấn tượng của Ngọc Lan để lại đối với mọi người trong lớp là vẻ đẹp mong manh, nữ tính, không những thu hút tất cả các đấng mày râu ít ỏi trong lớp, mà còn của cả các lớp trên. Đến bây giờ, thỉnh thoảng gặp lại nhau, mọi người trong lớp vẫn điểm mặt, ai là người thích Lan nhỉ. Ai cũng nghĩ là Lan yếu đuối, vì từ bé đến lớn đã được chiều chuộng, nâng niu. Có người lại còn bảo, số Lan trông thì an nhàn thế, nhưng có lẽ sẽ vất vả, vì vẻ buồn buồn hiện trong đôi mắt. Thế mà cuộc sống đã tôi luyện tất cả. Những người gặp Lan sau này đôi khi cũng phải ngỡ ngàng, không hiểu Lan lấy đâu ra được nghị lực để vượt qua tất cả những khó khăn, thử thách  của cuộc sống. Lan vẫn giữ được vẻ dịu dàng, yêu kiều qua thời gian. Cùng tên, nhưng Hương Lan lại gây ấn tượng vì vẻ ương bướng của mình. Sau nay Lan mới kể lại là hồi đó Tuyến đã phát hiện rằng Hương Lan họ Trương, toàn vần ương, nên tên thế, tính thế là đúng quá. Tuyến nổi danh với biệt hiệu “bác học” vì tính chăm chỉ, cần cù khó ai bì kịp. Các bạn nội trú chắc vẫn nhớ cảnh Tuyến dậy từ sớm, tập phát âm chữ “r”, lưỡi rung mà giường tầng cũng phải rung theo. Thúy có biệt danh “còi” vì vóc dáng, các bạn cùng phòng lợi dụng lúc Thúy ngủ say, nói mê, để tra khảo xem thích bạn nào. Nhà Thúy hồi đó ở phố Đội Cung, khiến hội hay suy bậy trong lớp càng thêm phát huy trí tưởng tượng. Vinh thì hay bị cả lớp trêu, nhưng dáng cao, mặc quần ống loe phấp phới, cũng để lại nhiều ấn tượng lắm. Liên lớp phó phụ trách sinh hoạt đã rất nhiệt tình, sát sao, trách nhiệm trong công việc khó nhất là phân phối tem phiếu cho các bạn đăng ký ăn ở bếp ăn của trường. Có lẽ chính thời kỳ đó đã tạo nên tính năng động, nhậy bén, thành công sau này ở Liên. Đôi mắt đen, to tròn, trên gương mặt gầy gò, dáng người nhanh nhẹn, nên nhiều bạn tuy cùng học một lớp, nhưng sinh năm dưới, tự nguyện gọi Liên là chị. Người cũng có ánh mắt lanh lợi, thông minh là Phương Lan, lớp phó phụ trách học tập, cũng bị các bạn trong lớp gán cho tên của bộ trưởng Sa hoàng đàn áp cách mạng. Phong thì lãng mạn, văn chương ướt át, báo hiệu cho tương lai của một thầy giáo dậy khoa văn đại học sư phạm sau này… 

Biết bao kỷ niệm buồn, vui, nhiều khi không thể nhớ lại được hết. Ngồi xem lại những quyển Lưu bút viết vào cuối năm lớp 12. Hồi đó cũng đã mỏi tay để viết những dòng gần giống nhau vào các cuốn sổ, tiên liệu đến nỗi buồn phải rời xa tuổi thơ. Nhưng bây giờ, sau 25 năm nhìn lại, mới thấy thấm thía hết được. Không ai có thể quay trở lại thời thanh niên hạnh phúc, sôi nổi đó được nữa.
(Phan Linh Cẩm)

(HAT) - Bài này Cẩm viết và đăng trong cuốn Kỷ yếu của K13B Chuyên ngữ (lớp tiếng Nga) nhân dịp 25 năm vào trường. Lớp K13A (Anh-Pháp) của mình cũng định làm Kỷ yếu rồi lại thôi, vì thấy mất nhiều công sức quá, trong lớp lại không có "nhà văn nhà thơ" nào (hoặc có nhưng ngại đăng tác phẩm của mình chăng?). Sắp tới hai lớp sẽ tổ chức kỷ niệm 30 năm vào trường, nên mình muốn đăng bài này của Cẩm, để "làm mồi", mở đầu cho Chủ đề Chuyên Ngữ. Hy vọng sẽ có nhiều phản hồi và bài viết của các bạn, về một thời để nhớ.

 Mình còn giữ được bức hình này của một nhóm bạn lớp B. Không nhớ ai tặng mình, có lẽ là Hùng "Rô". Dù Cẩm viết "không ai có thể quay trở lại thời thanh niên hạnh phúc, sôi nổi đó được", nhưng mình vẫn mong các bạn coi bức hình này, và để cho tâm tưởng quay về thăm một thời để nhớ đó nhé.