Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Nhớ về Chuyên Ngữ: Người xưa

Bài của ĐMH - K13

HAT - Mấy lần tôi định viết về các "mối tình" chuyên ngữ, song lại thôi. Tôi ngại làm lộ bí mật của bạn bè, dù 30 năm đã qua rồi. Thực ra phần nhiều đó là những chuyện gán ghép của học trò, một vài cặp cũng có vẻ kết nhau thực sự, nhưng có lẽ chỉ là những rung động của tuổi mới lớn, trong sáng và ngây thơ. Nếu tôi không lầm thì PTCN thời đó chỉ có 2 cặp sau này nên duyên: Hằng-Việt (K11) và Nhi-Hà (K13). May sao, ĐMH, một anh bạn học cùng khóa, đã viết bài và đồng ý cho tôi post lên đây.
Chúng ta cùng đọc câu chuyện do bạn ĐMH viết nhé, và chờ đợi các phần tiếp theo .. Người xưa 2, Người xưa 3 ... Nghe nói bài đã viết, nhưng tác giả kiêm nhân vật chính đang chờ xin các chủ thể cho "giấy phép xuất bản" hi hi.

Người xưa 1

   Đói đã tiêu diệt nhiều ước mơ lớn lao của con người…
   Đói làm những học sinh đang tuổi ăn tuổi lớn như chúng tôi chỉ có ước mơ trước mắt là kiếm gì bỏ vào bụng, để nó khỏi kêu ùng ục trong giờ lên lớp.
   Nhưng đói lại là cơ hội để nảy sinh trong tôi 1 tình cảm đẹp.
  Người ta nói "Đói thì đầu gối phải bò", tôi bán hết tem phiếu vải, gạo, những lạng đường sữa cuối cùng trong thời bao cấp để đổi lấy cháo trai, bánh sắn Bà Khánh (cái thương hiệu mà sau này ăn chơi rất nhiều món ngon vật lạ  tôi cũng không thể nào quên được…). Và cứ chiều thứ bảy tôi lại nhảy tàu điện mang 1 cái balô lép kẹp về bến xe Hà Đông, khuôn mặt thì ngu ngơ nhưng động tác len lỏi tránh chú soát vé thì rất mau lẹ, khôn khéo. Từ Hà Đông, tôi bắt xe về Mỹ Đức, Vác …. để xuống Kim Bài (thủ phủ của Thanh Oai), đến nhà ông bác ruột làm Trưởng phòng giao thông huyện. Hồi đó Nguyễn Quang Vinh cũng như tôi, toàn trốn vé, chứ chưa có khái niệm gì về chống tham nhũng, vì có đâu mà chống. Lương chức Trưởng phòng giao thông huyện của ông bác cũng chỉ vừa đủ ăn, có thêm con cá đi câu ở ao Ủy ban để nuôi thằng cháu, cơm thơm ăn với nước mắm, dưa, muối vừng … cũng đủ ngon (không chê ỷ eo các món ăn ngon như các con tôi bây giờ). Đầu giờ chiều Chủ nhật bác tôi lại cho đủ tiền vé để từ Kim Bài về trường theo lộ trình ngược lại. Lắm lúc Bác cũng hết tiền, tôi nghĩ trong bụng “chuyến này thăm bác bị âm rồi …”.
   Tôi đã đi với 1 người con gái lớp bên cạnh như vậy nhiều lần, cùng về và cùng đi  mà không nói chuyện. Con gái mới lớn, da trắng, đôi mắt hút hồn. Tôi cũng bắt đầu vỡ tiếng. Đêm nằm ở Thanh Oai, tôi mơ cùng nàng sánh vai, cùng về cùng đi … Chỉ mơ thế thôi, tỉnh dậy đã ngượng đỏ mặt với ông bác đang ngon giấc.
   Ông bác tôi hình như quen với cha nàng, ông đùa rằng: "Sao không rủ nó cùng về? Này, con bé ấy ngoan, chăm học, gia đình cơ bản …, tán đi sau này tao xin việc ở đây cho. Hai đứa đẹp đôi đấy..."
    Tôi cũng chưa quen bạn khác giới nhiều, con gái lớp tôi rất tốt nhưng cũng hay lấn át bọn con trai trong lớp, vì nữ chiếm số đông, với lại có cảm tình với ai bọn nó trêu đến chết mất.
    Tôi âm thầm và đơn phương mê người bạn đồng hành, người ấy lặng lẽ trong những chuyến xe và hình như chẳng quan tâm gì đến tôi.
    Cho đến ngày, tôi cùng 1 số bạn phải tạm biệt chuyên ngữ, lòng nặng trĩu ưu tư trở về trường cũ để học nốt năm học cuối cấp III, cũng chưa nói điều gì với nàng. Và sau này qua mail … nàng chẳng hề biết gì và nhớ gì, coi tôi và các chuyện của tôi như từ một hành tinh lạ.
   Trong buổi gặp gỡ các bạn K13 kỷ niệm 30 năm vào chuyên ngữ, tôi hoành tráng kêu các cái tên những bạn ngày xưa cùng lớp mà tôi thích: Lan Phương, Thu Liên, Phương Lan, Ngọc Lan ….
   Nhưng có cái tên trong 2 năm ròng tôi âm thầm theo đuổi, tôi giấu nhẹm đi, vì đoán người đó chẳng hề biết tý gì … là tôi thích người đó …. Một ký ức quá trong trẻo của thời học sinh mà tôi gọi vui là "chuyện tình chuyên ngữ" hay "người xưa"….

(ĐMH)

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012

Nhớ về Chuyên Ngữ: Nhập Trường (bài của ĐMH)

HAT - Khi viết loạt bài về Chuyên Ngữ, để chuẩn bị Kỷ niệm 30 năm K13 chúng tôi vào trường, tôi cứ hy vọng các bạn học chuyên ngữ, ít nhất là các bạn cùng khóa, sẽ có nhiều phản hồi, và thậm chí viết nhiều bài gửi đăng lên đây, giống như các bạn học cấp 1-2 của tôi ở Thái Nguyên đã làm. Thật tiếc, chỉ có một ít comment, và chỉ có một bài của Phương Lan gửi từ Canada. Cũng có chút an ủi là từ sau Buổi lễ kỷ niệm cách đây hơn 2 tháng, các bạn K13 trở nên gắn kết hơn, tham gia tích cực vào forum của khóa, kết quả là hai tháng qua trao qua đổi lại hơn 1000 e-mail. Và các chủ đề trong forum thật sự đa dạng, thiết thực bổ ích đối với nhiều người. Nhưng đó là câu chuyện khác.
Còn bây giờ tôi xin gửi các bạn học sinh Chuyên Ngữ bài viết (hy vọng sẽ là loạt bài) của bạn ĐMH, K13B.


Nhập trường

      Tôi là một học sinh cấp II chuyên toán ở phố huyện một tỉnh thuần nông. Điều kiện ở phố huyện những năm 80 còn nghèo, ít các trò chơi dành cho thanh,  thiếu niên, nên tôi  và các bạn  cùng lớp say mê học tập. Vì là con giáo viên, tôi được định hướng học toán và lúc nào cũng đứng ở tốp đầu, tuy nhiên thày giáo chủ nhiệm Pitơ Huỳnh (bọn tôi kính phục thày và coi thày là anh em của Pitơgo) chỉ nhận xét: học rất tốt, tuy còn hấp tấp…
      Năm 1981 tôi thi chuyên ngữ vào đạt số điểm khá cao: Toán 9,5 văn 6,5… Cuộc đời tôi từ đó đánh dấu 1 bước ngoặt, từ quê nghèo lên phố lớn, với những dấu ấn của những năm đầu thập niên 80. Hà Nội đón tôi với những dãy phố cao, đông vui, ồn ã, buôn bán ngược xuôi… Bố tôi đưa tôi lên học lần đầu tiên (và có thể là duy nhất trong 2 năm học cấp III chuyên ngữ). Tôi nhớ chiếc xe khách cũ nát của những năm bao cấp đưa bố con tôi lên Thủ đô chở đầy bu gà, gạo, quang gánh lổn ngổn, cảnh đó sau này tôi còn bắt gặp ở các chuyến xe buýt,  xuất phát từ nội thành … để đón đưa khách. Từ Bờ Hồ, đi Cửa Nam và đi Cầu Giấy bằng xe điện, tôi khoái chí ngắm mọi người tấp nập lên xuống, tiếng leng keng đáng yêu và giật mình khi xe đỗ, hoặc tóe lửa khi bác phụ lái đưa cái “ đuôi” xe, nối vào dòng điện để xe bắt đầu 1 chặng mới, khi tới nơi đỗ nó lại được bác khéo léo ngắt ra, nguyên lý thật đơn giản…
      Trong trường, may mắn là tôi được học cùng với 1 ông bạn hiền lành, tốt bụng và cẩn thận từ hồi cấp II, nhưng bố hắn công tác ở gần trường nên hắn ra ngoại trú mất. Tôi thả mình vào tập thể các bạn mới, với rất nhiều tính cách, và tôi nhanh chóng nhận ra rằng đa số bạn bè tôi là dân Hà nội, có điều kiện sinh hoạt và học tập tốt hơn và học rất giỏi. Số còn lại, dân tỉnh lẻ như tôi, thì cùng ở nội trú, nhưng tôi cũng tự biết mình ở xa nhất và hoàn cảnh nhất, đặc biệt là sau khi bác Lợi "màn" ở lớp trên khoắng của bọn tôi rất nhiều quần áo và màn đem ra Cầu Giấy bán. Số là tôi có 2 cái áo tím ngắt và xanh lè (khoác nó lên có lúc tôi giống như con bọ xít, lúc lại giống con cánh cam!) vải dầy như vải sợi gai bây giờ, ông anh "tha" cho vì biết bán chẳng ai mua, để tôi có dịp mặc đi học, và các bạn đã cho tôi biệt danh "bạn có màu áo dễ nhớ". Sau này, mỗi khi nhớ lại, tôi tự hào là để nổi tiếng các chàng trai thời nay phải nhẩy từ tầng cao của tòa nhà, hay mua hàng ngàn bông hoa xếp hình trái tim ở bãi đê, các cô gái phải nuy hay lộ băng tình tứ … thì hồi đó mình chỉ cần mặc 1, 2 cái áo đã tỏ ra sự khác biệt thành 1 đẳng cấp khác… đẳng cấp "nhà quê" đầy mặc cảm ở thời điểm ấy….
     K13 đặc thù là đói, môn sinh thứ 13 thành tội đồ của chúa, còn K13 là đứa con khốn khó của Phổ thông CN, vì thiếu gạo nên bọn tôi học ở quê đến hết kỳ 1 của năm lớp 8, 5/2 Dương lịch 1982 chúng tôi mới nhập học. Nạn đói hoành hành không tha cả các thày cô, mà giai thoại là "lợn nuôi giáo sư Văn Như Cương" (bố Văn Quỳnh Giao K13), chứ không phải "giáo sư Văn Như Cương nuôi lợn". Các cô giáo tôi sau này cũng tâm sự là thương học sinh lắm, nhưng các thầy cô cũng rất vất vả nuôi con. Dân nội trú chúng tôi sống dựa vào nắp hầm, bo bo, cơm độn và canh cải xoong để cả rễ, đệm với loáng thoáng vài lát cà chua … ăn nhiều đến nỗi sau này vợ tôi làm món cải xoong đặc sản, các con tôi tấm tắc khen ngon, riêng tôi vẫn ngán đến tận cổ. 
    Tuổi ăn, tuổi lớn, học nặng để theo kịp chúng bạn, làm chúng tôi gầy còm, nhưng đâu đó đã xuất hiện dấu hiệu dậy thì, bắt đầu trứng cá, vỡ giọng, cao lên, nhiều ước mơ hoài bão ... xen kẽ trong những giấc mơ đó có 1 vài cô bạn học vui vui ….

(ĐMH)

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

Nhật ký Tây Bắc: Trở lại Sàng Ma Sáo

Tôi trở lại Sàng Ma Sáo vào một ngày nắng ấm.
Nhờ trời khô ráo, đường không trơn, chiếc xe tải nhỏ chở hàng vượt qua con dốc mà lần trước cả Captiva và Innova đều không lên được, vào thẳng sân trường Mầm Non. Rất may là 4 ngày chúng tôi ở Tây Bắc, thời tiết đều nắng đẹp, trong khi đó ở Hà Nội mưa gió sụt sùi, sương mù dày đặc.

Các cô Mầm Non và các thầy giáo Tiểu học đã chờ sẵn, giúp tôi mau chóng chuyển đồ trên xe xuống. Tôi vẫn có chút áy náy vì chiếc xe tải phải quay về Hà Nội gấp, không kịp chở giúp hàng vào tận các điểm trường ở bản xa. Chiều và tối hôm đó, các thầy cô, cùng với một số phụ huynh dùng xe máy chở hàng về các điểm trường, để hôm sau đoàn đến là có sẵn đồ phát cho các con.


Kiểm đếm, bàn giao hàng hóa xong cho 2 trường, cũng là lúc bọn trẻ Mầm Non bắt đầu ăn trưa, tôi sà ngay vào với chúng nó. Blogger MTH đã kịp chụp ảnh lia lịa. Ngay ngày hôm sau trên blog của anh có bài phóng sự "Nhìn chúng nó ăn "cơm có thịt". Có lẽ MTH chỉ chú ý chụp những khuôn mặt ngây thơ, xinh xắn của các bé, ít chú ý đến bát cơm, nên trong các bức hình ở bài phóng sự khó nhìn ra thịt. Nhiều bạn đọc bài viết đó thắc mắc: "Sao chẳng thấy thịt đâu?". Là người đóng góp thường xuyên (dù ít ỏi) cho chương trình "cơm có thịt" do anh TĐT khởi xướng, tôi quan tâm đặc biệt đến chất lượng bữa ăn của các con. Hy vọng bức ảnh sau đây, mà tôi chụp cùng lúc với MTH, sẽ xua tan những nghi ngại về chuyện "cơm có thịt" hay "cơm không có thịt":
 
Thịt băm kho với đậu phụ ...

... và canh rau cải
(trưa 05.03, tại Trường chính, MN SMS)

Nhẩm tính, với 5.000 đồng cho mỗi bữa trưa của một cháu, được thế này đã là tốt lắm. Cũng cần ghi nhận công sức của các cô giáo, nhất là ở các điểm bản xa, hàng ngày phải đi cả chục km đến chợ mua thịt, mua đậu phụ, rau ... rồi cặm cụi nấu ăn cho các con. Chuyến đi này, Gánh Hàng Xén tặng cho mỗi điểm trường 5 kg cá khô, thế là các con sẽ có thêm nguồn đạm, phốt-pho ... bổ sung vào thịt, đậu. Hy vọng sẽ có thể gửi cá cho các con thường xuyên hơn. Chúng tôi nghe nói cá khô ở đây còn quý hơn thịt.

Bọn trẻ nghe lời cô, khi ăn không đứa nào nói chuyện. Nhưng hôm nay có khách, chúng phấn khích hẳn lên, mấy cậu con trai thấy cô quay đi là lại thì thào gì đó bằng tiếng H'Mông, tôi không hiểu. Còn một chi tiết khiến tôi chú ý, đó là bọn trẻ 3-4-5 tuổi này tự xúc cơm ăn rất gọn gàng, hầu như không vãi ra ngoài. Có một cậu chàng trộn đều cơm với thức ăn (theo hiệu lệnh của cô) hăng hái quá, văng mấy hạt cơm ra bàn, nó vội vàng nhặt từng hạt cơm vãi bỏ vào miệng, loáng cái không sót hạt nào.

Đầu giờ chiều, các "lít nhít" ngủ dậy, tôi xin phép cô vào lớp chơi cùng các con. Chúng nó đã quen với tôi, bạo dạn lắm, xúm quanh chiếc máy ảnh. Mấy đứa chạy ra đằng trước, đứng cho tôi chụp, cả lũ bám đằng sau, ghé mắt nhìn màn hình, chỉ trỏ, bàn tán gì đó bằng tiếng H'Mông, cười ré lên.


Rồi tôi tranh thủ dạy bọn trẻ cách xì mũi, lau mũi bằng khăn giấy. Gần như 100% các bé đều chảy mũi. Có đứa phải thay khăn giấy 4-5 lần mới tạm sạch. Bọn trẻ có vẻ cũng khoái "trò chơi" này. Cứ hỏi "mũi ai còn bẩn nào?" là chúng giơ tay rào rào.

Chiều hôm sau, 06.03, tôi quay lại Sàng Ma Sáo (một thầy giáo bảo tiếng H'Mông có nghĩa là núi mào gà) cùng đoàn GHX, sau khi thăm Pa Cheo.
Đoàn chia thành thừng nhóm 3-4 người, vào từng điểm bản. Nhóm tôi đi Nậm Pẻn 2. Từ trường chính đi ô tô khoảng chục km, rồi đi xe máy và đi bộ 6 km nữa. Lớp Mầm Non và Tiểu học Nậm Pẻn 2 là mấy căn nhà tranh vách nứa, dựng tạm nơi đất kẹt giữa những nhà dân. Có nghĩa là để vào trường, mọi người phải đi qua sân, vườn, trèo qua rào nhà dân.
 
Bậc thềm lớp MN rất hẹp, cao đến 2m, bên dưới là sân lớp TH.
Chúng tôi thắc mắc nếu trời mưa, đất trơn thì bọn nhỏ có ngã không.
Cô giáo nói ít khi ngã, chưa có chuyện gãy tay gãy chân.



Bọn trẻ MN ở đây thật đáng yêu, ngoan ngoãn, lễ phép.
Chúng ngồi yên trên ghế, khoanh tay chờ được chia quà.

Các con chỉ phấn khích chạy khỏi chỗ ngồi khi tôi lại lôi trò chơi "chụp ảnh" ra cho chúng vui. Tôi đoán có lẽ chúng chưa bao giờ nhìn thấy cái máy ảnh. Chắc chưa bao giờ được chụp riêng một bức hình. Nhất định tôi sẽ quay lại đây, tặng mỗi đứa một vài bức ảnh làm kỷ niệm, và cũng để chúng hiểu rằng các người lớn của "cơm thịt" và "gánh hàng xén" không chỉ "đến rồi đi".

Khi tôi mải chơi với lớp MN, các bạn trong nhóm đã kịp phát áo, ủng cho các con TH ở sân. Tiếc rằng áo ấm phát bổ sung cho các con (đợt 1 đã trao trước Tết) có một số cái hơi rộng, còn ủng thì một số đôi hơi bé, chắc nhiều con mang về lại cho anh chị hoặc em chăng? Tôi vào luôn các lớp học, xem bọn trẻ học thế nào. Ở bản này không có điện, nên lớp học hơi tối, lúc nào cũng phải mở toang cửa ra mới tạm đủ ánh sáng. Mùa đông gió lùa rét lắm đây!

Giờ Toán lớp 1

Còn đây là bài văn của bé Hạng A Thếnh, lớp 5A4 mà tôi xin được:
Đề bài: Kể một câu chuyện về điều kiện học tập nơi em ở và nói lên cảm xúc, suy nghĩ của mình, nếu được sự quan tâm giúp đỡ của các tổ chức xã hội, các tổ chức từ thiện đối với em và các bạn.

 

"Nhà em ở thôn NP 1 xã SM Sáo ở đây đường đi rất khó khan, trời mưa đường rất trơn, vì là đường đất.
Từ nhà em đi học xa   dốc còn về thì lên dốc, mỗi ngày đi học em mang một cặp lồng cơm để ăn, trưa song rồi học buổi chiều vì nhà ở của em rất xa trường học trường em đã xây, bàn ghế ngồi học chỗ, em còn nhớ, ngày em học Lớp 1, 2 en ngồi bàn mà phải với vì cái bàn cao quá, còn giờ em học Lớp 5, em đã ngồi vừa với em. Em nghĩ mà thương các em Lớp 1, 2 cũng phải với như em em mong muốn  áo, có bộ [HAT - cán bộ?] quan tâm đên en Lớp 1, 2 để có bàn ghế vừa với các em đó"

Bài văn còn nhiều lỗi chính tả, câu từ lủng củng cứ phải vừa đọc vừa luận, nhưng tôi thích vì ý nghĩ độc lập, khác hẳn những bài viết khác khá giống nhau (chắc được thầy cô gợi ý?!). Mong sao các con có nhiều những bài viết độc lập và sáng tạo!

Sáng hôm sau, ngày 07.03, nhóm chúng tôi đi thăm Trường chính TH SMS, ở trung tâm xã. Trưởng đoàn Sống Thật Chậm sắp xếp vậy vì hôm qua nhóm chúng tôi đã phải cuốc bộ khá nhiều, chứ thực lòng ai trong số tình nguyện viên cũng muốn đi đến bản xa nhất - Trà Phà.

Ở Trường chính, trong khi phát áo, vở viết và đồ dùng học tập cho các bé, chúng tôi để ý ngay đến dãy cặp lồng cơm để trên bệ cửa sổ. Bạn Lana đã có bài viết thật xúc động về "chiếc cặp lồng cơm", còn tôi thì tỷ mẩn đếm: trong số 12 chiếc cặp lồng, có duy nhất một chiếc có thức ăn mặn (thứ gì đó giống cá kho), 8 chiếc chỉ có rau cải muối hoặc luộc, 1 chiếc chỉ có củ gừng và tý muối, 2 chiếc hoàn toàn không có bất kỳ thức ăn gì. Mà như mọi người biết, đây là điểm trường chính, thường có nhiều con em cán bộ, gia đình cũng ít người nghèo hơn so với các thôn bản sâu trong núi.
 

Lại có thêm chút vân vi (xin phép anh PNT), chút đắng đót. Lại phải nghĩ, làm thế nào để các con Tiểu Học (hiện chưa được hỗ trợ của cơm thịt) có thêm tý chất đạm, ít nhất là vào bữa cơm trưa, để còn có sức mà học.

Trước khi chia tay các con, các thầy cô giáo, chúng tôi ghé thăm khu học sinh tiểu học nội trú. Chỉ có 5 cháu bé, 2 phòng nhỏ, 3 cái giường tầng. GHX trang bị riêng cho các con đầy đủ bộ xoong, chảo, bát thìa cốc inox, và túi cá khô, để các con tự tổ chức nấu ăn hàng ngày.

  Cái giường cao, lại kê ngược thế này
Làm sao con gái trèo lên được tầng trên nhỉ?

Nhà tắm

Rời Sàng Ma Sáo, chúng tôi cứ tiếc sao lúc ở Hà Nội không cố nhồi thêm, nhét thêm ít áo, ít bánh kẹo, ít ... bất cứ thứ gì, vào những chiếc xe vốn đã chật cứng đồ, để có thể chia thêm cho bọn trẻ. Và chúng tôi cũng hiểu, còn nhiều, rất nhiều việc chúng tôi sẽ phải làm để góp một phần nho nhỏ cải thiện điều kiện sống và học tập của các bé ở SMS nói riêng, và ở vùng cao Tây Bắc nói chung này.
 

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Nhật ký Tây Bắc: Những nẻo đường núi

07.03.2012
Mới hai lần lên Bát Xát và một lần lên Mường Khương, mà những địa danh, những cung đường trước đây tôi chưa từng nghe đến, giờ đây cũng trở nên vô cùng thân thương, quen thuộc, như thể tôi đã sống ở đây lâu rồi. Có lẽ tại bởi vì tôi sinh ra và lớn lên ở vùng trung du, nên tôi yêu những con đường ngoằn ngoèo trườn trên sườn đồi dốc núi, những con đường vượt suối băng ngầm ở Tây Bắc.

Chiếc xe tải của chúng tôi chở nặng quần áo, sách vở và những vật dụng học tập, sinh hoạt cho các em bé ở Pa Cheo và Sàng Ma Sáo (Bát Xát) đến Lào Cai lúc 4h chiều ngày 4.3. Từ Lào Cai vào Pa Cheo có hai con đường: một đường qua Sapa, dài khoảng 70 km, và một đường qua Bản Vược - Mường Vi - Bản Xèo, dài khoảng 35 km. Con đường qua Sapa lần trước tôi đã đi, trải nhựa khá tốt, nhưng nhiều dốc cao và dài. Sau khi hỏi thăm mấy người lái xe tải về con đường Bản Xèo, nghe nói đã sửa gần xong, và tôi biết hàng ngày xe khách Lào Cai-Mường Hum vẫn chạy tuyến đường này, chúng tôi quyết định chọn con đường ngắn. Anh chàng lái xe thích đi đường gần, còn tôi thì thích khám phá. Và chúng tôi đã mất rất nhiều thời gian và sức lực vì đoạn đường này. Từ Lào Cai đến Bản Vược đường tốt. Từ Bản Vược đường rải đá dăm, cũng khá tốt tuy hơi hẹp. Nhưng chỉ được khoảng 5 km thì bắt đầu là đường đá gồ ghề, mấp mô, xe chạy rất chậm. Đến cách Bản Xèo khoảng 7 km, đường bị tắc do lở núi.


Chiếc xe ủi đất lại bị tuột xích, đứng chềnh ềnh giữa đường


Nghe chúng tôi nói xe từ Hà Nội chở hàng ủng hộ cho học sinh vùng cao, mấy anh công nhân sửa đường nhanh chóng dùng máy xúc kéo chiếc xe ủi ra, và dùng gầu xúc để san tạm đường cho xe ô tô qua.


Khi thông đường thì trời cũng vừa sập tối. Không quen đường, anh lái xe cứ dò dẫm từng tý một, chốc chốc lại nhờ tôi dùng đèn pin soi đường ở khúc cua gấp, hoặc xuống đánh xi nhan cho xe qua những chỗ ổ voi khỏi bị chạm gầm. Có đoạn suối, anh ta tháo giày, lội bộ qua ngầm cẩn thận rồi mới lái xe qua. Quãng đường hơn chục km còn lại đến Pa Cheo, chúng tôi lò dò đi hết hơn hai giờ đồng hồ.

Nhưng đoạn đường từ Pa Cheo vào Sàng Ma Sáo qua đèo Cán Tỷ vào sáng hôm sau mới là thử thách thực sự với chiếc xe tải nhỏ và người lái xe chỉ quen đi đường ở đồng bằng. May nhờ trời khô ráo và xe nhẹ bớt sau khi dỡ một phần hàng xuống Pa Cheo, chúng tôi vượt đèo an toàn, chỉ có mấy lần thót tim khi xe lắc lư nghiêng ngả ngay trên mép vực sâu hút, và một lần loay hoay nửa tiếng trên đèo để cậy hòn đá sắc lẻm kẹt chặt giữa hai bánh xe.

Ngày hôm sau, các nhóm "gánh hàng xén viên" chia nhau đi các lớp cắm bản, những nơi mà ô tô, thậm chí cả xe máy cũng không đi được nữa. Nhiều chỗ, các bạn phải đi bộ 3-4 km mới vào đến trường. Con gái Hà Nội có dám phi xe xuống con dốc dựng đứng lởm chởm đá như thế này?

Đường vào bản Nậm Pẻn (Sàng Ma Sáo)

Vậy mà các cô giáo trẻ ở đây vẫn chở hàng, chở người đi băng băng. Có chỗ tôi đi một mình một xe còn khó, thì thầy giáo tiểu học chở kẹp 3 vẫn chạy ngon lành. Một cô giáo còn trẻ măng, chắc cũng mới về trường, dừng xe máy ngay đầu con dốc vừa cao vừa hẹp, run run nói: "Các anh chị ơi, em sợ lắm!". Nhưng khi mấy anh em trong đoàn xin cầm lái giúp cô, thì cô không chịu, tự đi xuống dốc an toàn, rồi bảo: "Em phải xin mãi bố mẹ em mới cho mang xe máy lên đây!". Lúc đó mới hiểu tại sao các cô giáo bảo, chi phí lớn nhất của các cô ở vùng cao là tiền đổ xăng và sửa xe máy.


Ở Tây Bắc không chỉ có những cung đường gian nan hiểm trở, mà còn có những cảnh đẹp hùng vĩ làm say lòng người. Chiếc máy ảnh du lịch nhỏ xíu không thể giúp tôi lưu giữ lại tất cả những khoảnh khắc tuyệt vời trên đường đi. Tôi vẫn tiếc máy không đủ zoom để chụp cảnh những người phụ nữ H'Mông tắm bên suối Mường Hum trong chiều nắng cuối đông.

Khe suối Mường Hum, nhìn từ lưng chừng đèo Cán Tỷ

 Ngầm Bản Xèo, nhìn từ lưng chừng đèo Cán Tỷ

 Bản Xèo, nhìn từ đèo Cán Tỷ

 
 Sáng sớm ở Tả Lèng (Pa Cheo)

Thung lũng Kin Sáng Hồ buổi sớm, nhìn từ Tả Lèng. Ở giữa là trụ sở UB xã và
Trạm Y tế, bên trái là Trường THCS, bên phải là khu trường Mầm Non + Tiểu học.
Trông ngay gần vậy mà phải đi xe máy 5-6 km đấy.

Trường THCS Pa Cheo, bên sườn dãy núi phía xa là con đường đi Sapa.


 Đổ nước vào ruộng bậc thang

Ruộng bậc thang ở Ki Quan San (Sàng Ma Sáo)

Giữa lòng suối cạn (Nậm Pẻn, Sàng Ma Sáo)

Mời bạn ngắm những nẻo đường Tây Bắc qua ống kính của N.H.T,
một tình nguyện viên mới trong chuyến đi này của Gánh Hàng Xén:

Đường lên bản Pờ Sì Ngài (Pa Cheo)






Tôi yêu những con đường gập ghềnh đá sỏi, như cái số phận trầm luân vất vả của những con người Việt Nam. Tôi yêu những con đường rải nhựa mịn màng, quanh co uốn lượn trên các sườn núi cao Tây Bắc, dẫn chúng tôi đến với những em thơ nơi địa đầu Tổ Quốc. Như yêu mảnh đất này, nơi tôi đã sinh ra.